Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

09/03/2026

IMEX NEWS làm việc với Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Nam Ninh, thúc đẩy đưa hàng Việt vào thị trường Trung Quốc

Ngày 2/3/2026, đoàn công tác của IMEX NEWS đã có chuyến thăm và làm việc đầu năm tại Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc). Buổi gặp gỡ với đại diện Thương vụ Việt Nam được xem là bước khởi đầu thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2026, hướng tới mở rộng cơ hội đưa hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường Trung Quốc. Tăng cường kết nối thương mại Việt Nam – Trung Quốc Tiếp đoàn IMEX NEWS có Ông Tô Vũ Lực – Trưởng phòng Thương mại, Phó Lãnh sự - Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Nam Ninh. Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về tình hình hợp tác thương mại Việt Nam – Trung Quốc, đặc biệt là tiềm năng mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam tại khu vực Quảng Tây – một trong những trung tâm giao thương quan trọng giữa hai nước. Đại diện Thương vụ đánh giá cao những nỗ lực của IMEX NEWS trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp và nhà máy Việt Nam quảng bá sản phẩm, kết nối đối tác và từng bước xây dựng kênh phân phối hàng hóa tại Trung Quốc. Theo ông Tô Vũ Lực, Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ lớn đối với nhiều mặt hàng của Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thực phẩm chế biến và các sản phẩm đặc sản vùng miền. Việc có những đơn vị chủ động kết nối như IMEX NEWS sẽ góp phần mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường này. Thăm Trung tâm trưng bày và giao dịch hàng hóa Việt Nam tại Nam Ninh Trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn IMEX NEWS đã mời đại diện Thương vụ đến tham quan Trung tâm trưng bày và giao dịch hàng hóa Việt Nam tại Nam Ninh – dự án do IMEX NEWS đầu tư và đang trực tiếp vận hành. Trung tâm được xây dựng nhằm trở thành điểm giới thiệu, quảng bá và kết nối giao thương cho các sản phẩm tiêu biểu của Việt Nam tại thị trường Trung Quốc. Tại đây, đoàn đã tham quan khu trưng bày các sản phẩm đặc trưng của Việt Nam như: Nông sản và thực phẩm chế biến Các sản phẩm đặc sản vùng miền Sản phẩm chăm sóc sức khỏe Hàng tiêu dùng có tiềm năng xuất khẩu Mô hình hoạt động của trung tâm kết hợp trưng bày – trải nghiệm – kết nối giao dịch, giúp các nhà nhập khẩu, doanh nghiệp và hệ thống phân phối Trung Quốc trực tiếp tìm hiểu sản phẩm và tiến tới hợp tác thương mại. Cầu nối đưa hàng Việt tiếp cận hệ thống phân phối Trung Quốc Theo đại diện IMEX NEWS, việc xây dựng và vận hành Trung tâm trưng bày và giao dịch hàng hóa Việt Nam tại Nam Ninh nhằm tạo ra một nền tảng xúc tiến thương mại lâu dài cho doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua trung tâm này, IMEX NEWS sẽ tổ chức nhiều hoạt động như: Chương trình kết nối giao thương Việt Nam – Trung Quốc Sự kiện giới thiệu sản phẩm mới của doanh nghiệp Việt Nam Hội nghị xúc tiến thương mại tại Nam Ninh và Quảng Tây Kết nối hệ thống phân phối và nhà nhập khẩu Trung Quốc Mục tiêu của trung tâm là giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp thị trường Trung Quốc, giảm bớt các khâu trung gian, đồng thời tăng cường quảng bá thương hiệu sản phẩm Việt Nam tại khu vực Nam Trung Quốc. Kỳ vọng mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp hai nước Chuyến làm việc đầu năm giữa IMEX NEWS và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Nam Ninh không chỉ góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai bên, mà còn mở ra nhiều cơ hội kết nối thương mại mới giữa doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc. Trong thời gian tới, với sự hỗ trợ từ Thương vụ Việt Nam tại Nam Ninh, IMEX NEWS kỳ vọng Trung tâm trưng bày và giao dịch hàng hóa Việt Nam sẽ trở thành địa chỉ xúc tiến thương mại tin cậy, góp phần thúc đẩy xuất khẩu và đưa ngày càng nhiều sản phẩm Việt Nam đến với người tiêu dùng Trung Quốc. Liên hệ IMEX NEWS – Chủ động chiến lược xuất khẩu & thích ứng rủi ro thị trường! Zalo/WeChat/Hotline: 0982.515.526 – 0989.989.346 – 0866.865.366 Website: www.imexnews.vn Email: [email protected] Văn phòng Quốc tế: Số 1 Vũ Đức Thận, Long Biên, Hà Nội Trung tâm giao dịch tại Trung Quốc: Tầng 4, Tòa B, Khu trụ sở Ngũ Tượng, Đại lộ Ngũ Tượng, Khu thương mại tự do thí điểm Trung Quốc (Quảng Tây), TP Nam Ninh IMEX NEWS – Cùng bạn giữ đà tăng trưởng xuất khẩu & vươn xa toàn cầu!
Xem thêm

Tin tức

2 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất nhập khẩu đạt trên 155 tỷ USD

Tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước tính từ đầu năm đến hết tháng 2/2026 đạt 155,73 tỷ USD, tăng 22,3% tương ứng tăng 28,36 tỷ USD so với cùng kỳ. Chiều 9/3, thông tin từ Cục Hải quan cho biết, trong tháng 2/2026, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 67,19 tỷ USD, giảm 23,8% (tương ứng giảm 20,97 tỷ USD) so với tháng 1/2026. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 33,09 tỷ USD, giảm 23,4% (tương ứng giảm 10,1 tỷ USD) và trị giá nhập khẩu đạt 34,1 tỷ USD, giảm 24,2% (tương ứng giảm 10,87 tỷ USD). Ảnh minh hoạ. Tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước tính từ đầu năm đến hết tháng 2/2026 đạt 155,73 tỷ USD, tăng 22,3% tương ứng tăng 28,36 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó xuất khẩu đạt 76,39 tỷ USD, tăng 18,3% (tương ứng tăng 11,82 tỷ USD) và nhập khẩu đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% (tương ứng tăng 16,54 tỷ USD). Như vậy, lũy kế đến hết 2 tháng/2026, cả nước nhập siêu 2,95 tỷ USD. Trong 2 tháng đầu năm 2026, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 117,1 tỷ USD, tăng 35,9% (tương ứng tăng tới 30,9 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp này đạt 60,23 tỷ USD, tăng 30,4% tương ứng tăng 14,03 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025 và trị giá nhập khẩu 56,87 tỷ USD, tăng 42,2% tương ứng tăng 16,87 tỷ USD. Về tình hình thu ngân sách nhà nước, số thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu tháng 02/2026 đạt 28.696 tỷ đồng, giảm 30,7%  so với tháng trước. Tổng thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2026 đạt 70.085 tỷ đồng, bằng 15,5% so với dự toán, bằng 13,6% so với phấn đấu, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Xem thêm

Phòng vệ thương mại: Giữ thế chủ động cho doanh nghiệp xuất khẩu

Trước sự gia tăng điều tra phòng vệ thương mại từ nước ngoài, với sự hỗ trợ của bộ ngành, đặc biệt là Bộ Công Thương, doanh nghiệp đã chủ động hơn trong xử lý, ứng phó. Bảo đảm môi trường thương mại công bằng Năm 2025, xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gia tăng toàn cầu, sự gia tăng đáng kể về số lượng vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cùng với độ phức tạp chưa từng có tiền lệ, phạm vi điều tra ngày càng đa dạng. Doanh nghiệp xuất khẩu chủ động ứng phó hiệu quả trước các vụ điều tra phòng vệ thương mại. Ảnh minh họa Trong bối cảnh đó, theo báo cáo về công tác phòng vệ thương mại năm 2025 của Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) lĩnh vực này đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, nổi bật với nhiều dấu ấn. Cụ thể, công tác tham mưu, xây dựng, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng vệ thương mại được đẩy mạnh. Trong đó, Cục Phòng vệ thương mại đã hoàn thiện, báo cáo Lãnh đạo Bộ Công Thương trình Chính phủ phê duyệt, ban hành Nghị định 86/2025/NĐ-CP nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, linh hoạt và có hiệu lực đủ mạnh trong công tác điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Đồng thời, nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và các bên liên quan, Cục Phòng vệ thương mại đã rà soát và báo cáo Lãnh đạo Bộ thực hiện cắt giảm 1 thủ tục hành chính và tiếp tục triển khai 2 thủ tục hành chính cấp độ 4. Đồng thời, tiếp tục triển khai có hiệu quả Hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến trong các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại (Trav Online). Đặc biệt, trước bối cảnh nhiều hàng hóa nhập khẩu có dấu hiệu bán phá giá hoặc được trợ cấp gây thiệt hại nghiêm trọng cho một số ngành sản xuất trong nước, công tác khởi kiện, điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tiếp tục được tăng cường, đẩy mạnh tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ lợi ích hợp pháp các ngành sản xuất trong nước. Năm 2025, Cục Phòng vệ thương mại tiếp tục điều tra, rà soát 9 vụ việc đã khởi xướng trong năm 2024; khởi xướng điều tra 2 vụ việc mới và 1 vụ việc chống lẩn tránh, khởi xướng rà soát 4 vụ việc rà soát cuối kỳ; khởi xướng 2 rà soát hàng năm, tiếp nhận và xử lý 8 hồ sơ đề nghị điều tra và rà soát mới. Trong số 58 vụ việc điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, đã có 34 biện pháp phòng vệ thương mại có hiệu lực. Theo Cục Phòng vệ thương mại, các biện pháp này đã góp phần bảo đảm môi trường thương mại công bằng nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực của hàng nhập khẩu đến sản xuất trong nước và việc làm của hàng triệu lao động, bảo đảm an ninh kinh tế và an sinh xã hội tại các tỉnh thành trên cả nước. Đặc biệt, khoản thuế chống bán giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ và thuế chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thu nộp ngân sách hàng năm rất lớn với hơn 1.600 tỷ đồng. Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp Ở chiều ngược lại, do năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế nước ta ngày càng lớn, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với các vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài. Đến nay đã có 298 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 25 thị trường và vùng lãnh thổ điều tra đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với 21 vụ việc phòng vệ thương mại nước ngoài mới khởi xướng phát sinh từ 11 thị trường. Trước các nguy cơ về điều tra phòng vệ thương mại, nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc đã được cơ quan quản lý tăng cường triển khai. Trong đó, công tác cảnh báo sớm các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra; cung cấp thông tin cho doanh nghiệp về quy trình điều tra, kịch bản ứng phó; phối hợp với các hiệp hội và doanh nghiệp liên quan trong việc trao đổi với các cơ quan điều tra nước ngoài nhằm bảo vệ, hỗ trợ ngành xuất khẩu Việt Nam được đối xử công bằng theo đúng các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp xuất khẩu của ta. Nhờ đó, Cục Phòng vệ thương mại đánh giá, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về phòng vệ thương mại đang dần được nâng cao. Một số ngành, một số doanh nghiệp đã chủ động trong việc xử lý, ứng phó với các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài. Đặc biệt, một số vụ việc đã thành công nhất định như: Canada kết luận sơ-mi-rơ-moóc nhập khẩu từ Việt Nam không lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại; một doanh nghiệp lớn của Việt Nam được hưởng thuế 0% trong vụ việc EU điều tra chống bán phá giá thép cán nóng nhập khẩu từ Việt Nam. Mới đây nhất là Hoa Kỳ đã giảm thuế chống bán phá giá rà soát sơ bộ đối với mật ong từ 100,72% - 156,96% xuống còn 6,72% - 21,55%. Hiện nay, Cục Phòng vệ thương mại theo dõi biến động xuất khẩu của hơn 422 mặt hàng xuất khẩu sang 10 thị trường thường xuyên tiến hành điều tra phòng vệ thương mại. Trên cơ sở đó, thực hiện đánh giá có 27 nhóm mặt hàng nằm trong danh sách có nguy cơ bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hoặc điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp. Từ đó giúp các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp không bị động trong công tác ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài. Về giải quyết tranh chấp, tham mưu đàm phán, thực thi các FTA và tham gia trong khuôn khổ WTO, Cục Phòng vệ thương mại đã là nguyên đơn khởi kiện 5 vụ việc giải quyết tranh chấp về các biện pháp phòng vệ thương mại tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong đó có 4 vụ việc ta kiện Hoa Kỳ và 1 vụ việc ta kiện Indonesia. Trong các vụ việc, Cục Phòng vệ thương mại vừa tuân thủ tất cả các giai đoạn theo quy định của WTO, đồng thời cân nhắc thảo luận giải pháp song phương với các nước bị kiện. Nhờ vậy, cho đến nay, cả 5/5 vụ việc đều được giải quyết tại WTO và hầu hết theo hướng có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2026, thực hiện chủ trương chủ động sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất trong nước phù hợp với cam kết quốc tế, theo Cục Phòng vệ thương mại, công tác phòng vệ thương mại sẽ cần tập trung vào một số định hướng lớn. Trong đó, sẽ tiếp tục nghiên cứu, báo cáo các thay đổi quy định pháp luật về phòng vệ thương mại của các nước, đặc biệt là các quy định có khả năng tác động nhiều tới Việt Nam để cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu, thể chế hóa cơ chế hợp tác về phòng vệ thương mại với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; trao đổi với các đối tác thương mại quan trọng những nội dung hợp tác cụ thể để xử lý vấn đề trốn thuế, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Xem thêm

Giá lúa gạo hôm nay ngày 9/3/2026: Gạo Thơm dẻo neo giá cao

Giá lúa gạo hôm nay ngày 9/3/2026 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Thị trường giá gạo trong nước và xuất khẩu tương đối ổn định, lúa tươi chững giá. Giá lúa gạo hôm nay ngày 9/3/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Giá lúa gạo hôm nay ngày 9/3/2026: Gạo Thơm dẻo neo cao, lúa tươi chững giá. Ảnh: Thanh Minh. Trong đó với mặt hàng gạo, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.900 - 8.010 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg, so với hôm qua. Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.650 - 11.500 đồng/kg. Hiện tấm thơm tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 7.650 - 7.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 10.500 - 11.500 đồng/kg, so với cuối tuần. Ghi nhận tại thị trường các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, kho mua lựa gạo đẹp, giá gạo các loại ít biến động. Tại Cái Bí (An Giang), Lấp Vò,  Sa Đéc, An Cư (Đồng Tháp), gạo về ít, kho mua chậm, giá gạo các loại tương đối ổn định.  Tại các chợ lẻ, gạo các loại đi ngang so với cuối tuần. Gạo theom dẻo các loại neo cao. Cụ thể, gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg. Tương tự với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg, so với tuần trước. Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, lúa tươi các loại vững giá. Tại Tây Ninh, Đồng Tháp giao dịch mua bán trầm lắng, giá ít biến động.  Tại An Giang, lúa Đông Xuân giao dịch chậm, lúa thơm ít người hỏi mua mới, thời tiết có mưa một số vùng khiến giao dịch lúa chững lại, giá vững. Tại Cần Thơ, giao dịch mua bán ít, chủ yếu lúa gần ngày cắt, giá ít biến. Tại Cà Mau, Vĩnh Long, giao dịch mua bán ít, giá chững. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 430 - 434 USD/tấn. Bảng giá lúa gạo hôm nay ngày 9/3/2026 Bảng giá mang tính tham khảo.
Xem thêm

Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan tại cửa khẩu Tân Thanh

Sáng 2/2, Đoàn công tác của Bộ Công Thương đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Ngay sau chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long về tháo gỡ vướng mắc trong kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP, sáng 2/2, Đoàn công tác Bộ Công Thương do Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Tại khu vực cửa khẩu Tân Thanh, Đoàn đã có buổi làm việc với Sở Công Thương Lạng Sơn, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII và lực lượng kiểm dịch y tế cửa khẩu Tân Thanh để nắm bắt thực tế phát sinh trong quá trình kiểm tra, thông quan hàng hóa, nhất là nông sản dịp cận Tết. Sau khi nghe báo cáo về tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá tháng 01/2026 và triển khai thực hiện các quy định tại Nghị định số 46/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản cho biết, các ý kiến vướng mắc, khó khăn tại địa phương sẽ được tổng hợp, báo cáo Bộ Công Thương và phối hợp liên ngành để đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời, bảo đảm thông quan thông suốt, không để xảy ra ùn ứ hàng hóa. Cùng với kiểm tra thực địa, trước đó, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã ban hành Công văn số 135/XNK-TMQT ngày 01/2/2026 gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Đồng thời, đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp, cập nhật tình hình cửa khẩu và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm, chủ động điều tiết lượng hàng xuất nhập khẩu phù hợp năng lực thông quan, hạn chế rủi ro ách tắc. Dưới đây là một số hình ảnh phóng viên Báo Công Thương ghi nhận buổi làm việc và khảo sát thực địa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn): Đoàn công tác của Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn (ngoài cùng bên phải) đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh. Đoàn công tác khỏa sát tại khu vực bãi đỗ xe cửa khẩu Tân Thanh. Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, bước sang năm 2026, tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng mạnh. Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, chủ động triển khai nhiều biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá qua cửa khẩu. Quang cảnh buổi làm việc. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản phát biểu tại buổi làm việc. Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn Hoàng Khánh Duy  Đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu. Đại diện Hải quan Lạng Sơn. Đại diện Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn. Đại diện Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII Lạng Sơn.
Xem thêm

Hiệp hội logistics: Đa dạng kịch bản vận tải để giảm tác động từ xung động Trung Đông

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, xung đột Trung Đông làm đảo lộn vận tải toàn cầu, cước biển leo thang, doanh nghiệp Việt buộc phải chuyển sang kịch bản ứng phó dài hạn. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Trần Chí Dũng - Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), xung quanh những tác động và giải pháp ứng phó trước biến động địa chính trị phức tạp hiện nay đến chuỗi cung ứng và thị phần xuất khẩu của Việt Nam. Ông Trần Chí Dũng - Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam. Không ngành nào “miễn nhiễm” - Thưa ông, xung đột Trung Đông đang tác động thế nào đến vận tải quốc tế và hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam? Ông Trần Chí Dũng: Nếu đại dịch Covid-19 từng khiến chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy chưa từng có, thì căng thẳng Trung Đông hiện nay có thể xem là “cú sốc lớn” thứ hai đối với ngành logistics. Điểm đáng lo ngại là yếu tố rủi ro an ninh lần này khó dự báo hơn và phụ thuộc nhiều vào diễn biến chính trị, quân sự quốc tế.  Trước hết là tác động trực tiếp đến chi phí. Khi nguy cơ mất an toàn hàng hải gia tăng, các hãng tàu lập tức áp phụ phí rủi ro chiến tranh, phụ phí bảo hiểm, phụ phí chuyển hướng. Một số tuyến buộc phải thay đổi hành trình, tránh các điểm nóng, khiến quãng đường vận chuyển dài hơn, thời gian giao hàng kéo dài thêm từ 10-14 ngày, thậm chí hơn. Với vận tải hàng không, không phận bị hạn chế hoặc kiểm soát chặt cũng làm chi phí tăng cao. Điều này tạo áp lực kép lên doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, vừa chịu chi phí logistics tăng, vừa phải đảm bảo tiến độ giao hàng theo hợp đồng. Trung Đông vốn là điểm trung chuyển chiến lược kết nối châu Á với châu Âu và châu Phi. Khi khu vực này bất ổn, toàn bộ mạng lưới vận tải liên lục địa bị xáo trộn. Việt Nam, với tỷ trọng lớn hàng hóa đi EU, Trung Đông, châu Phi, chắc chắn bị ảnh hưởng dây chuyền. - Từ thực tế đó, ông có thể chỉ ra những ngành hàng nào của Việt Nam chịu tác động mạnh nhất? Ông Trần Chí Dũng: Thực tế là không có ngành nào đứng ngoài vòng xoáy. Logistics là “huyết mạch” của thương mại, nên khi huyết mạch gặp trục trặc, toàn bộ hệ thống đều bị ảnh hưởng. Các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử, nông sản đều chịu áp lực lớn. Đặc biệt, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp sẽ gặp khó khăn hơn cả. Chỉ cần chi phí vận tải tăng thêm 20-40%, lợi nhuận có thể bị bào mòn đáng kể. Logistics là “huyết mạch” của thương mại, nên khi huyết mạch gặp trục trặc, toàn bộ hệ thống đều bị ảnh hưởng. Ảnh minh họa Ngoài ra, rủi ro pháp lý cũng gia tăng. Hợp đồng giao hàng trễ có thể phát sinh tranh chấp. Điều khoản “bất khả kháng” không phải lúc nào cũng dễ áp dụng. Nếu không lường trước và chuẩn bị kỹ, doanh nghiệp có thể đối mặt với khiếu nại, phạt hợp đồng, thậm chí mất khách hàng. Đáng lưu ý, tâm lý thị trường cũng bị ảnh hưởng. Khi bất ổn kéo dài, nhà nhập khẩu có xu hướng giảm đơn hàng, trì hoãn ký kết hợp đồng mới, hoặc chuyển sang nguồn cung gần hơn để giảm rủi ro. Hai kịch bản cho thương mại toàn cầu - Theo quan sát của ông, nhìn từ xung đột Trung Đông, có thể dẫn tới những kịch bản nào cho thương mại thế giới? Ông Trần Chí Dũng: Có thể hình dung hai kịch bản. Kịch bản thứ nhất, xung đột sớm được kiểm soát. Khi đó, thị trường sẽ dần ổn định, nhưng chi phí vận tải và bảo hiểm khó có thể trở lại mức cũ ngay lập tức. Doanh nghiệp vẫn cần thời gian để phục hồi. Kịch bản thứ hai, căng thẳng kéo dài hoặc lan rộng. Đây là kịch bản buộc các tập đoàn đa quốc gia phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng mạnh mẽ hơn. Xu hướng “đa dạng hóa nguồn cung”, “gần hóa thị trường” và “an toàn hóa chuỗi cung ứng” sẽ được đẩy nhanh. Tôi cho rằng, ngay cả khi xung đột sớm hạ nhiệt, thế giới cũng khó quay lại trạng thái trước đây. Yếu tố an ninh và ổn định chính trị sẽ được đặt lên hàng đầu trong chiến lược đầu tư và thương mại. - Vậy, ông có khuyến nghị cụ thể nào cho doanh nghiệp logistics và xuất nhập khẩu nhằm chủ động ứng phó trước biến động thị trường toàn cầu? Ông Trần Chí Dũng: Tôi đề xuất ba nhóm giải pháp. Thứ nhất, xây dựng kịch bản vận tải thay thế. Doanh nghiệp không nên phụ thuộc quá nhiều vào một tuyến hàng hải hay một đối tác vận chuyển. Cần chủ động tìm hiểu các tuyến đường thay thế, ký kết hợp đồng linh hoạt hơn, chia nhỏ lô hàng khi cần thiết để giảm rủi ro. Thứ hai, tăng cường số hóa chuỗi cung ứng. Không chỉ dừng ở thương mại điện tử, mà phải số hóa toàn bộ quá trình từ đặt hàng, vận chuyển, lưu kho đến thanh toán. Dữ liệu minh bạch và theo thời gian thực sẽ giúp doanh nghiệp dự báo tốt hơn, phản ứng nhanh hơn trước biến động. Thứ ba, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm. Thay vì tập trung quá nhiều vào một vài thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần mở rộng sang các thị trường mới nổi, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm để bù đắp chi phí tăng. - Xin cảm ơn ông!  Ông Trần Chí Dũng nhận định, nếu biết tận dụng cơ hội trong thách thức, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên trở thành trung tâm logistics và thương mại quan trọng của khu vực trong giai đoạn tái cấu trúc toàn cầu hiện nay.
Xem thêm

Giá vàng hôm nay ngày 09/03/2026: Dự báo nhiều biến động

Cả giới phân tích lẫn nhà đầu tư kỳ vọng giá vàng tuần này sẽ đi lên, dù trong tuần qua từng bị bán tháo từ mốc cao nhất 5.400 USD/ounce. Giá vàng thế giới hôm nay 09/03/2026 và biểu đồ biến động giá vàng thế giới 24h qua Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 5,171.12 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 1,85% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.688 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 166,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 18,6 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Theo khảo sát về giá vàng thế giới tuần mới của Kitco, cả giới phân tích lẫn nhà đầu tư đều kỳ vọng giá kim loại quý sẽ tăng trở lại trong những ngày tới. Cụ thể, tại cuộc khảo sát ở Phố Wall, có 18 chuyên gia phân tích tham gia trả lời. Trong đó có 50% cho rằng giá vàng sẽ tăng, 22% dự báo giá giảm và 28% còn lại nhận định giá đi ngang. Theo Kitco, thị trường vàng vừa trải qua một tuần giao dịch kém tích cực khi kim loại quý không thể duy trì vai trò “trú ẩn an toàn” như kỳ vọng. Giá vàng từng bật tăng mạnh lên khoảng 5.400 USD/ounce sau căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, nhưng đà tăng nhanh chóng bị chặn lại khi nhiều nhà giao dịch tranh thủ chốt lời. Các chuyên gia cho rằng những đợt tăng giá do yếu tố trú ẩn thường chỉ mang tính ngắn hạn. Khi tâm lý lo ngại ban đầu giảm bớt, thị trường thường quay lại tập trung vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, biến động tiền tệ và triển vọng chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Bên cạnh đó, đồng USD mạnh lên và kỳ vọng Fed chưa vội nới lỏng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn cũng đang tạo áp lực nhất định lên giá vàng. Ở chiều hỗ trợ, một số dữ liệu kinh tế gần đây của Mỹ lại làm gia tăng kỳ vọng về khả năng Fed phải sớm hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Theo ông Jeffrey Roach - kinh tế trưởng của LPL Financial, thị trường lao động Mỹ đang có dấu hiệu chững lại sau giai đoạn tăng trưởng yếu trong năm 2025. Nếu đà suy yếu tiếp tục gia tăng, Fed có thể phải cân nhắc cắt giảm lãi suất sớm hơn dự kiến. Trong bối cảnh triển vọng lãi suất giảm và rủi ro kinh tế toàn cầu vẫn hiện hữu, nhiều chuyên gia cho rằng nhu cầu nắm giữ vàng như một tài sản phòng ngừa rủi ro vẫn có thể tiếp tục duy trì trong thời gian tới. Tại cuộc khảo sát trực tuyến ở Main Street, các nhà đầu tư cá nhân lạc quan về đà đi lên của giá vàng. Có 340 nhà đầu tư trả lời với con số 60% người được hỏi nói giá vàng tăng tiếp, chỉ 16% cho rằng giá giảm và 22% còn lại nhận định kim loại quý đi ngang. Dù giới phân tích nhận định giá vàng giảm tiếp nhưng số lượng chuyên gia lạc quan với triển vọng của kim loại quý vẫn áp đảo. Ông Colin Cieszynski, chiến lược gia trưởng thị trường tại SIA Wealth Management, nói với Kitco rằng những ngày này không chỉ giá vàng biến động mà các tài sản khác cũng tăng. Xu hướng của vàng vẫn tích cực khi liên tục đứng vững trên mốc 5.000 USD/ounce. Dù đồng USD đi lên nhưng vai trò trú ẩn an toàn của vàng chưa thay đổi. Ở chiều ngược lại, trong báo cáo chiến lược tháng 3-2026, Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng giá vàng tăng nhờ nhu cầu phòng vệ của nhà đầu tư khi căng thẳng địa chính trị gia tăng. Tuy nhiên, giá năng lượng lên quá cao có thể khiến ngân hàng trung ương các nước đảo chiều chính sách để bình ổn lạm phát. Khi đó, giá vàng sẽ bất lợi. Giá vàng trong nước hôm nay 09/03/2026 Tại thời điểm khảo sát lúc 4h30, giá vàng miếng SJC được một số thương hiệu niêm yết như sau: Các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc lớn khác trong nước như Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn DOJI, Tập đoàn Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải, Công ty Mi Hồng… cũng đều đóng cửa giao dịch với vàng miếng ở mức giá ngang bằng với SJC. So với mức đỉnh kỷ lục 190,9 triệu đồng/lượng thiết lập vào ngày 2/3, giá vàng miếng hiện đã giảm gần 6 triệu đồng/lượng. Cộng thêm chênh lệch từ giá mua vào và bán ra, người mua vàng ở mức cao này hiện lỗ tới gần 9 triệu đồng/lượng, tương đương mức lỗ ròng tới 5%. Dù vậy, nếu so với mức giá hồi cuối tuần trước, mức giảm được thu hẹp hơn, vào khoảng 2 triệu đồng mỗi lượng. Cộng thêm giá chênh lệch thì người mua vàng cuối tuần trước đến nay vẫn lỗ khoảng 5 triệu đồng mỗi lượng. Giá vàng hôm nay ngày 09/03/2026. Ảnh: P.C Về giá vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI niêm yết ở mức 182-185 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 1,8 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch tuần trước. Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng nhẫn SJC loại 1-5 chỉ ở mức 181,7-184,7 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 2,1 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch tuần trước. Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá nhẫn tròn trơn ở ngưỡng 182-185 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giảm 2 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch tuần trước. Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết giá nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo ở mức 182-185 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giảm 2 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch tuần trước. Giá vàng thương hiệu Bảo Tín Mạnh Hải được niêm yết sáng sớm ngày 09/03/2026.
Xem thêm

Nâng tầm thương hiệu Việt trong hành trình hội nhập toàn cầu

Thương hiệu đang trở thành trụ cột cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi quốc tế ngày càng cao buộc doanh nghiệp đổi mới mạnh mẽ, vươn lên. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, thương hiệu đã vượt lên vai trò nhận diện đơn thuần để trở thành một giá trị chiến lược quyết định sức cạnh tranh của hàng Việt. Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam vì thế được xem như “bệ phóng” quan trọng, giúp doanh nghiệp chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang phát triển dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng. Xoay quanh vai trò của thương hiệu quốc gia, rào cản doanh nghiệp đang đối diện và những chuẩn mực mới từ thị trường quốc tế, Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương). Ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương). Ảnh: Hoa Quỳnh Vai trò trụ cột của thương hiệu trong chiến lược hội nhập - Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, thương hiệu và Chương trình Thương hiệu quốc gia có ý nghĩa thế nào đối với nâng cao sức cạnh tranh, giá trị và vị thế của hàng Việt trên thị trường quốc tế? Ông Hoàng Minh Chiến: Từ góc độ quản lý nhà nước, có thể khẳng định thương hiệu đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại quốc gia và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Thương hiệu không chỉ là công cụ then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn là “tấm thẻ thông hành” giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn khắt khe của những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới. Giữa thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp và Thương hiệu quốc gia tồn tại mối liên hệ hữu cơ; khi thương hiệu quốc gia được nâng tầm, trở thành sự bảo chứng mạnh mẽ về chất lượng và uy tín, giúp doanh nghiệp tự tin vươn lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu và đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng xanh, bền vững. Năm 2025, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt 519,6 tỷ USD (tăng 2,5%), giữ vững vị trí thứ 32 thế giới. Nhiều thương hiệu doanh nghiệp đã vươn tầm toàn cầu như: Ngân hàng Vietcombank, BIDV, VietinBank lọt Top 500 thương hiệu ngân hàng thế giới; Vinamilk duy trì vị trí trong Top 50 toàn cầu; Viettel giữ vững ngôi vương tại Đông Nam Á. Trong tổng thể chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chương trình thương hiệu quốc gia đóng vai trò như một “bệ phóng” giúp hàng Việt chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Chương trình thiết lập bộ tiêu chí khắt khe dựa trên ba trụ cột “Chất lượng - đổi mới sáng tạo - năng lực tiên phong”, qua đó tạo nên sự bảo chứng uy tín của nhà nước đối với các sản phẩm đạt chuẩn, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp tái cấu trúc chiến lược, đầu tư vào công nghệ và nâng cấp mô hình sản xuất - kinh doanh. Hiệu ứng lan tỏa của chương trình đã được chứng minh khi nhiều thương hiệu Việt như Viettel, Vinamilk vươn lên nhóm thương hiệu có giá trị cao trên thế giới, khẳng định vị thế hàng Việt trên bản đồ thương mại quốc tế. Có thể nói, Thương hiệu quốc gia Việt Nam không chỉ là công cụ xúc tiến thương mại, mà là giải pháp chiến lược góp phần nâng tầm giá trị hàng Việt, củng cố năng lực cạnh tranh và thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. 190 doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2024. Ảnh: Moit Chuẩn mực quốc tế mới và yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp Việt - Trong quá trình đưa thương hiệu Việt vươn ra toàn cầu, theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt, cả về năng lực nội tại lẫn môi trường kinh doanh quốc tế? Ông Hoàng Minh Chiến: Đưa thương hiệu Việt vươn tầm quốc tế là một hành trình không hề đơn giản và doanh nghiệp đang phải đối mặt với hai nhóm rào cản lớn. Về năng lực nội tại, thách thức đầu tiên nằm ở tư duy làm thương hiệu. Không ít doanh nghiệp vẫn xem đây là chi phí phải cắt giảm khi gặp khó khăn, thay vì coi đó là khoản đầu tư dài hạn để nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh. Chính vì vậy, chúng ta vẫn nặng về tư duy bán được nhiều hàng, chú trọng năng suất, trong khi điều giữ chân khách hàng lâu dài lại chính là chất lượng và giá trị gia tăng. Một rào cản khác là tâm lý “gia công”. Dù nhiều sản phẩm Việt hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, doanh nghiệp vẫn chấp nhận xuất khẩu dưới dạng thô hoặc bao bì trắng, khiến thương hiệu nước ngoài hưởng lợi, còn hàng Việt lại thiếu dấu ấn tại các thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc chưa thực sự coi trọng sở hữu trí tuệ dẫn tới nhiều trường hợp doanh nghiệp bị chiếm đoạt thương hiệu ở nước ngoài, gây thiệt hại lớn về chi phí và kéo dài thời gian xử lý tranh chấp. Ở góc độ môi trường kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp Việt đang đứng trước sức ép tuân thủ “luật chơi xanh” và các tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Các thị trường lớn như Mỹ, EU hay Nhật Bản áp dụng loạt quy định mới, từ cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đến luật chống phá rừng, buộc doanh nghiệp phải xanh hóa toàn bộ chuỗi sản xuất nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó là hệ thống rào cản kỹ thuật phức tạp về an toàn thực phẩm, chứng chỉ chất lượng, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư lớn cho máy móc, quy trình và quản trị. Thêm vào đó, áp lực cạnh tranh ngày càng dữ dội khi các FTA mở cửa thị trường khiến doanh nghiệp Việt không chỉ đối đầu với doanh nghiệp bản địa mà còn phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia có thương hiệu và kinh nghiệm lâu năm. Những rào cản đó cho thấy để thương hiệu Việt vươn ra thế giới, doanh nghiệp cần một chiến lược đầu tư bài bản, nâng cao nội lực và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, thay vì chỉ dựa vào lợi thế chi phí hay sản lượng. - Từ kinh nghiệm làm việc với nhiều thị trường và đối tác quốc tế, ông nhìn nhận thế nào về yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và nhà nhập khẩu nước ngoài đối với thương hiệu Việt liên quan đến chất lượng, tính bền vững và trách nhiệm xã hội? Ông Hoàng Minh Chiến: Yêu cầu của người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu quốc tế đối với hàng hóa Việt Nam đang thay đổi rất nhanh và hướng tới chuẩn mực ngày càng cao. Trước hết, chất lượng đã trở thành điều kiện tiên quyết. Với những thị trường khó tính như Mỹ, EU hay Nhật Bản, sản phẩm không chỉ cần “tốt” mà phải đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt, từ ISO, Global G.A.P đến các chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Chất lượng hiện nay còn được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả sự ổn định trong sản xuất, dịch vụ hậu mãi và tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, tính bền vững đã trở thành “luật chơi mới” không thể né tránh. Các nhà nhập khẩu ngày nay đòi hỏi sản phẩm phải giảm phát thải, có dấu chân carbon thấp, tuân thủ cơ chế CBAM, quy định chống phá rừng và sử dụng vật liệu tái chế. Việc sản xuất xanh, sử dụng năng lượng tái tạo hay cắt giảm phát thải không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn nếu doanh nghiệp muốn duy trì chỗ đứng trong chuỗi cung ứng quốc tế. Đi liền với chất lượng và tính bền vững là yêu cầu về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh, yếu tố ngày càng được người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế coi trọng trong đánh giá một thương hiệu. Người tiêu dùng quốc tế hiện rất quan tâm doanh nghiệp đối xử với người lao động như thế nào, đóng góp gì cho cộng đồng và có minh bạch hay không trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây cũng là lý do khiến nhiều thương hiệu lớn của Việt Nam như Vinamilk hay TH True MILK được đánh giá cao tại thị trường quốc tế, bởi họ không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn kiên trì theo đuổi trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Có thể nói, thị trường quốc tế đặt ra “bài kiểm tra toàn diện” đối với doanh nghiệp Việt. Đầu tư vào xanh hóa, vào chất lượng chuẩn quốc tế và vào trách nhiệm xã hội không phải là gánh nặng chi phí, mà chính là tấm vé thông hành giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội từ các FTA thế hệ mới; khẳng định vị thế bền vững trên bản đồ kinh tế toàn cầu. - Xin cảm ơn ông! Thương hiệu đang trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hàng Việt trong hội nhập, buộc doanh nghiệp phải vượt qua hạn chế nội tại và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe. Chất lượng, bền vững và trách nhiệm xã hội không còn là lựa chọn, mà là điều kiện bắt buộc để thương hiệu Việt đứng vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Xem thêm

Quan hệ thương mại Mỹ - Đông Nam Á trước những ẩn số thuế quan

Bước sang năm 2026, chính sách thuế quan của Mỹ đối với Đông Nam Á tiếp tục là một ẩn số lớn trong bức tranh thương mại toàn cầu. Dù mức thuế danh nghĩa giữa các đối tác tương đối đồng đều, song sự chênh lệch giữa thuế suất công bố và thuế suất thực tế, cùng tiến trình đàm phán song phương và diễn biến trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung, đang chi phối đáng kể triển vọng thương mại của khu vực. Thuế quan danh nghĩa và thực tế Chính sách thuế quan của Mỹ đối với các đối tác thương mại chủ chốt ở Đông Nam Á nhìn chung ở mức độ đồng đều. Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan hiện chịu mức thuế “có đi có lại” 19%, trong khi Việt Nam ở mức 20%. Riêng Singapore chịu mức thuế cơ bản 10%, phản ánh thặng dư thương mại của Mỹ cũng như việc hai bên đã có hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, các mức thuế danh nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ nghĩa vụ thuế thực tế của doanh nghiệp. Khi tính đến các trường hợp miễn trừ, cơ cấu mặt hàng và các cuộc điều tra đang chờ kết luận, thuế suất thực tế mà các nhà nhập khẩu Mỹ phải nộp có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Đến tháng 9/2025, mức thuế suất thực tế trung bình của Việt Nam là 12,7%, còn Indonesia đạt 19,7%, cao nhất trong nhóm năm đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN tại thị trường Mỹ. Các mức tương ứng của Thái Lan, Malaysia và Singapore lần lượt là 10,1%, 8,7% và 2,6%. Sự chênh lệch này chủ yếu xuất phát từ các cơ chế miễn trừ thuế. Nhiều mặt hàng đang thuộc diện điều tra theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại Mỹ năm 1962, hiện vẫn được miễn thuế trong thời gian chờ kết luận. Bên cạnh đó, một số sản phẩm nông nghiệp không được sản xuất tại Mỹ, như cà phê và chuối, cũng nằm ngoài phạm vi áp thuế. Nhờ vậy, một tỷ lệ đáng kể hàng hóa từ Đông Nam Á vẫn tiếp cận thị trường Mỹ mà không chịu thuế quan. Số liệu tháng 9/2025 cho thấy, 75% hàng nhập khẩu từ Singapore được miễn thuế, trong khi tỷ lệ này của Indonesia chỉ là 11%, phản ánh sự khác biệt về cơ cấu xuất khẩu giữa các quốc gia. Tuy nhiên, chính các mặt hàng đang được miễn thuế do thuộc diện điều tra lại tiềm ẩn rủi ro lớn trong tương lai. Tại Thái Lan, 94% lượng hàng hiện được miễn thuế có khả năng phải chịu thuế bổ sung nếu các cuộc điều tra đi đến kết luận bất lợi. Tỷ lệ này tại Malaysia và Singapore lần lượt ở mức 72% và 71%. Tác động tài chính của thuế quan đã thể hiện rõ. Trong giai đoạn từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 9/2025, các nhà nhập khẩu Mỹ đã nộp gần 17 tỷ USD tiền thuế đối với hàng hóa từ năm quốc gia Đông Nam Á nói trên. Trước bối cảnh đó, Washington đã thúc đẩy các cuộc đàm phán song phương nhằm tìm kiếm sự ổn định hơn cho chính sách thương mại. Đến tháng 12/2025, Mỹ đã đạt thỏa thuận với Campuchia và Malaysia, bao gồm các cam kết về cắt giảm thuế quan, xử lý rào cản phi thuế quan, thúc đẩy cải cách pháp lý và hợp tác trong lĩnh vực kinh tế số, cùng với việc các đối tác tăng mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ. Các thỏa thuận này được giới doanh nghiệp Mỹ đánh giá tích cực, dù tại Malaysia vẫn tồn tại những lo ngại về tác động đối với dư địa chính sách trong dài hạn. Thương mại khu vực trước phép thử năm 2026 Các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Indonesia được cho là đã đạt tiến triển đáng kể vào cuối tháng 12/2025, với nhiều vấn đề then chốt được giải quyết. Công tác chuẩn bị đang được xúc tiến để Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto ký kết thỏa thuận với Tổng thống Mỹ Donald Trump vào cuối tháng 1/2026. Trong khi đó, đàm phán với Philippines vẫn tiếp tục nhưng diễn ra chậm hơn so với các nước láng giềng, theo thừa nhận của các quan chức Manila. Riêng Singapore không tham gia bất kỳ cuộc đàm phán song phương nào, do nước này đã có hiệp định thương mại tự do toàn diện với Mỹ. Xét về bản chất, nhiều nội dung trong các thỏa thuận song phương hiện nay phản ánh những mục tiêu đàm phán truyền thống của Mỹ. Các vấn đề như rào cản thuế quan và phi thuế quan, việc chấp nhận tiêu chuẩn sản phẩm của Mỹ, các yêu cầu cấp phép, quy định về tỷ lệ nội địa hóa hay các biện pháp bảo hộ khác đã từ lâu là trở ngại đối với hàng hóa và dịch vụ Mỹ tại các thị trường Đông Nam Á. Đáng chú ý là nhiều mục tiêu trong số này lẽ ra đã có thể đạt được thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định mà Mỹ rút lui vào năm 2017. Các cuộc đàm phán hiện tại có thể giúp hiện thực hóa một phần những mục tiêu đó, nhưng đi kèm chi phí đáng kể. Lần này, các nhà nhập khẩu Mỹ phải chấp nhận mức thuế 19 - 20% trong thời gian chờ đợi, coi đó như chi phí để đổi lấy những cải cách chính sách tại các quốc gia đối tác. Dù vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn hy vọng rằng các thỏa thuận này sẽ mở ra một giai đoạn ổn định và dễ dự đoán hơn trong dài hạn. Một số nguồn tin cho biết, các quan chức trong khu vực cũng thừa nhận rằng nhiều yêu cầu từ Washington thực chất là những cải cách mà các chính phủ Đông Nam Á đã trì hoãn trong thời gian dài. Theo cách nhìn này, áp lực từ bên ngoài đang coi như một đòn bẩy để thúc đẩy những thay đổi nội bộ vốn khó thực hiện nhưng được cho là cần thiết cho tăng trưởng dài hạn. Giới quan sát nhận định, vị thế của Đông Nam Á tại thị trường Mỹ không thể tách rời khỏi diễn biến trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung. Trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump, các phân tích của Phòng Thương mại Mỹ cho thấy, sau khi Washington áp thuế theo Điều 301 đối với hàng hóa Trung Quốc, các nước ASEAN được hưởng lợi thế thuế quan trung bình từ 12 - 19% so với Trung Quốc tại thị trường Mỹ. Đến tháng 12/2025, mức thuế suất hiệu quả trung bình áp lên hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ vẫn ở mức khoảng 30%. Điều này cho thấy các nước ASEAN tiếp tục duy trì được lợi thế thuế quan đáng kể. Tuy nhiên, khả năng khai thác lợi thế này phụ thuộc lớn vào tính bền vững của thỏa thuận “ngừng chiến” thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Nếu căng thẳng Mỹ - Trung leo thang trở lại và Mỹ tăng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc, Đông Nam Á nhiều khả năng sẽ được hưởng lợi khi các chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển. Ngược lại, nếu trạng thái hòa hoãn hiện tại được duy trì và thuế quan với Trung Quốc tiếp tục giảm, lợi thế thuế quan của Đông Nam Á sẽ bị thu hẹp đáng kể, kéo theo tác động tiêu cực đến xuất khẩu sang Mỹ. Một yếu tố khác góp phần làm gia tăng bất ổn là các phán quyết sắp tới của Tòa án Tối cao Mỹ liên quan đến Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế. Nếu tòa án phán quyết chống lại việc áp thuế theo đạo luật này, môi trường thương mại có thể trở nên bất ổn hơn nữa, bởi chính quyền Mỹ có thể chuyển sang sử dụng Mục 232 hoặc các thẩm quyền pháp lý khác để tái áp đặt nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các mức thuế hiện hành. Ngược lại, nếu tòa án giữ nguyên các mức thuế, quyền lực của Nhà Trắng trong việc áp đặt thuế quan đơn phương sẽ được củng cố đáng kể. Trong cả hai kịch bản, phán quyết của Tòa án Tối cao khó có thể mang lại sự ổn định mà giới doanh nghiệp mong đợi. Thay vào đó, các doanh nghiệp hoạt động tại thị trường Mỹ - Đông Nam Á nhiều khả năng sẽ phải tiếp tục thích ứng với một môi trường thương mại biến động, khó dự báo trong suốt năm 2026. Khi năm mới bắt đầu, chính sách thuế quan của Mỹ đối với Đông Nam Á vẫn là một trong những điểm nóng then chốt trong bức tranh thương mại toàn cầu, phản ánh sự đan xen phức tạp giữa chính sách đối nội của Mỹ, các mục tiêu địa chính trị và diễn biến trong quan hệ với Trung Quốc. Đối với doanh nghiệp, việc chuẩn bị cho kịch bản biến động kéo dài dường như vẫn là lựa chọn thực tế nhất.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Yếu tố nào giúp xuất khẩu thủy sản tăng trưởng đầu năm 2026?

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam khởi đầu năm 2026 với mức tăng trưởng ấn tượng 30,6% trong tháng 1, đạt hơn 1,01 tỷ USD, so với 774 triệu USD cùng kỳ năm 2025, điều này đến từ hai yếu tố. Xuất khẩu thủy sản tăng tốc nhờ hai yếu tố Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) thông tin, xuất khẩu thủy sản Việt Nam khởi đầu năm 2026 với mức tăng trưởng ấn tượng 30,6% trong tháng 1, đạt hơn 1,01 tỷ USD, so với 774 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, đà tăng này mang đậm yếu tố kỹ thuật và mùa vụ, trong khi triển vọng tháng 2 chịu tác động đan xen từ kỳ nghỉ tết Nguyên đán và những biến động chính sách thương mại tại thị trường Hoa Kỳ. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đánh giá, tăng trưởng tháng 1/2026 chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tháng 1/2025 trùng với kỳ nghỉ tết Nguyên đán, khiến số ngày sản xuất và giao hàng giảm đáng kể. Năm nay, Tết rơi vào tháng 2, giúp hoạt động xuất khẩu trong tháng 1 diễn ra bình thường hơn. Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường tăng mạnh để phục vụ mùa lễ hội đầu năm. Xuất khẩu sang ASEAN tăng 47%, sang Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) tăng 34%. Các thị trường lớn khác như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đều ghi nhận mức tăng từ 24 – 29%. Xuất khẩu thủy sản Việt Nam khởi đầu năm 2026 với mức tăng trưởng ấn tượng 30,6% trong tháng 1, đạt hơn 1,01 tỷ USD, so với 774 triệu USD cùng kỳ năm 2025. Xét theo sản phẩm, cá tra tăng mạnh 59,2%, mực – bạch tuộc tăng 40,4%, nhóm cá các loại khác tăng 36,9%, tôm tăng 22,1%. Bức tranh chung khá tích cực, cho thấy sự phục hồi về nhu cầu tại nhiều khu vực sau năm 2025 nhiều biến động. Đáng chú ý, dù xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 128,4 triệu USD, tăng 20,2%, song mức tăng này chủ yếu do yếu tố so sánh nền thấp, trong khi thực tế đơn hàng mới có dấu hiệu chững lại. Biểu hiện rõ nhất là ngành cá ngừ. Tổng xuất khẩu cá ngừ tháng 1 tăng 13,4%, riêng thị trường Hoa Kỳ lại giảm 5,7%. Nếu so sánh trên cơ sở số ngày làm việc tương đương giữa hai năm, mức giảm thực tế có thể cao hơn. Điều này phản ánh tâm lý thận trọng của nhà nhập khẩu trong bối cảnh môi trường thương mại nhiều biến động. Thị trường Hoa Kỳ gia tăng rủi ro chính sách, doanh nghiệp cần chủ động thích ứng Trọng tâm bất ổn hiện nay nằm ở chính sách thuế của Hoa Kỳ. Sau phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ hủy bỏ các mức thuế toàn cầu được áp dụng trước đó, Hoa Kỳ chuyển sang áp dụng mức thuế 15% theo cơ sở pháp lý khác. Theo thông tin từ Reuters, Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP) đã ngừng thu thuế theo IEEPA từ 0:01 sáng ngày 24/02/2026 (EST). So với mức thuế đối ứng 20% áp dụng với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8/2025, mức 15% là thấp hơn. Tuy nhiên, mặt bằng thuế giữa Việt Nam và các quốc gia từng chịu mức cao như Trung Quốc hay Ấn Độ được thu hẹp, khiến cạnh tranh tại thị trường Hoa Kỳ gia tăng. Lợi thế tương đối của thủy sản Việt Nam vì thế không còn rõ rệt như trước. Bên cạnh thuế quan, rào cản kỹ thuật cũng siết chặt. Từ 01/01/2026, Hoa Kỳ chính thức cấm nhập khẩu thủy sản từ các nghề hoặc quốc gia không được công nhận tương đương theo Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú Biển (MMPA). Nhiều lô hàng có thể phải bổ sung chứng nhận COA, làm tăng chi phí tuân thủ và rủi ro chậm thông quan. Các yêu cầu mới buộc doanh nghiệp rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt với nhóm khai thác biển. Ở chiều ngược lại, nhu cầu tiêu dùng tại Hoa Kỳ vẫn có những tín hiệu hỗ trợ. Các đợt bão tuyết mùa đông thúc đẩy xu hướng tiêu dùng tại nhà, gia tăng doanh số nhóm thủy sản đông lạnh và đồ hộp. Mùa Chay 2026 cũng kích hoạt nhiều chương trình khuyến mãi lớn, tạo lực đẩy cho tiêu thụ. Điều này cho thấy “điểm nghẽn” không nằm ở cầu thị trường, mà chủ yếu ở sự bất định chính sách và chi phí thương mại. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, bước sang tháng 2/2026, xuất khẩu khó duy trì mức tăng cao như tháng 1 do kỳ nghỉ tết Nguyên đán rơi vào tháng 2 làm giảm số ngày sản xuất, đồng thời kết quả cuối cùng của thuế chống bán phá giá tôm (POR19) công bố ngày 17/2 có thể tác động đến tâm lý ký kết đơn hàng mới. Trong kịch bản cơ sở, xuất khẩu tháng 2 có thể tăng nhẹ hoặc tăng ở mức thấp một chữ số so với cùng kỳ. Nhìn tổng thể, năm 2026 mở đầu bằng tín hiệu phục hồi khả quan nhưng không đồng đều giữa các thị trường. Hoa Kỳ – một trong những thị trường trọng điểm – đang bước vào giai đoạn biến động mạnh về chính sách thương mại. Trong bối cảnh đó, khả năng thích ứng nhanh, kiểm soát tuân thủ và đa dạng hóa thị trường sẽ tiếp tục là yếu tố then chốt để ngành thủy sản Việt Nam duy trì đà tăng trưởng trong các tháng tới.
Xem thêm

Nhiều quy định cho xuất khẩu nông sản vào thị trường Thụy Điển

Thị trường Thụy Điển mở ra cơ hội cho nông sản Việt Nam nhưng đi kèm tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất gây ô nhiễm. Thị trường phụ thuộc nhập khẩu nhưng tiêu chuẩn rất khắt khe Thụy Điển là một trong những thị trường thực phẩm có mức độ phụ thuộc cao vào nguồn cung nhập khẩu, trong đó có các mặt hàng nông sản và gia vị. Điều này tạo ra dư địa nhất định cho doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm doanh nghiệp Việt Nam, tham gia vào chuỗi cung ứng của quốc gia Bắc Âu này. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm với những yêu cầu rất khắt khe về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và hệ thống phân phối chuyên nghiệp. Thông tin đến phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Vụ trưởng, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển cho biết, hệ thống phân phối gia vị tại quốc gia này được tổ chức theo mô hình đa tầng, với sự tham gia của các nhà nhập khẩu, nhà chế biến, các chuỗi bán lẻ hiện đại, hệ thống dịch vụ thực phẩm và kênh thương mại điện tử đang phát triển. Trong chuỗi cung ứng này, các nhà nhập khẩu và nhà chế biến giữ vai trò trung tâm.  Thụy Điển không phải là quốc gia sản xuất gia vị, phần lớn nguyên liệu được nhập khẩu từ các nước ngoài Liên minh châu Âu (Ảnh minh họa) Do Thụy Điển không phải là quốc gia sản xuất gia vị, phần lớn nguyên liệu được nhập khẩu từ các nước ngoài Liên minh châu Âu (EU). Sau khi nhập khẩu, các doanh nghiệp trong nước tiến hành sơ chế, phối trộn, đóng gói và phân phối ra thị trường. Nhiều doanh nghiệp lớn vừa đảm nhiệm vai trò nhập khẩu vừa tham gia sâu vào khâu chế biến nhằm kiểm soát chất lượng và bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm nghiêm ngặt của EU. Các doanh nghiệp này thường nhập khẩu gia vị thô từ các khu vực nhiệt đới, đặc biệt là châu Á, sau đó phát triển thành các sản phẩm gia vị tiện lợi, gia vị pha trộn hoặc sản phẩm hữu cơ phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Điều này cho thấy dư địa nhất định cho các nhà cung cấp từ Việt Nam nếu đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và ổn định nguồn cung. Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy thông tin thêm, ở cấp độ bán lẻ, thị trường thực phẩm tại Thụy Điển có mức độ tập trung cao. Các chuỗi siêu thị lớn như ICA, Axfood và Coop chiếm ưu thế trong hệ thống bán lẻ thực phẩm. Không chỉ phân phối các thương hiệu gia vị trong nước và quốc tế, các tập đoàn bán lẻ này còn phát triển mạnh các nhãn hiệu riêng với giá cạnh tranh và danh mục sản phẩm đa dạng. Gia vị mang nhãn hiệu riêng của các chuỗi siêu thị ngày càng mở rộng sang phân khúc hữu cơ và bền vững, phù hợp với xu hướng tiêu dùng tại Thụy Điển. Tuy nhiên, để trở thành nhà cung cấp cho các chuỗi bán lẻ lớn, doanh nghiệp phải chứng minh năng lực cung ứng ổn định, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chứng nhận chất lượng cũng như các tiêu chuẩn logistics. Song song với kênh bán lẻ, kênh dịch vụ thực phẩm cũng là một mảng tiêu thụ gia vị quan trọng. Gia vị được sử dụng rộng rãi trong hệ thống nhà hàng, khách sạn, căng tin trường học, bệnh viện và các dịch vụ ăn uống công cộng. Các nhà phân phối chuyên biệt trong lĩnh vực này cung cấp gia vị với quy cách lớn, sản phẩm chế biến sẵn hoặc gia vị pha trộn phục vụ bếp công nghiệp. Ngoài các kênh truyền thống, thương mại điện tử đang dần trở thành kênh phân phối bổ trợ cho thị trường gia vị tại Thụy Điển. Các nền tảng bán lẻ trực tuyến của chuỗi siêu thị và các nhà bán thực phẩm trực tuyến cho phép người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận nhiều loại gia vị tiêu chuẩn cũng như các sản phẩm hữu cơ, đặc sản. Dù chưa phải kênh chủ đạo, thương mại điện tử được dự báo sẽ tiếp tục mở rộng trong bối cảnh thói quen mua sắm trực tuyến ngày càng phổ biến. Hàng loạt yêu cầu nghiêm ngặt đối với nông sản nhập khẩu Bên cạnh đặc điểm thị trường, các quy định pháp lý đối với thực phẩm nhập khẩu vào khu vực Bắc Âu, trong đó có Thụy Điển, được đánh giá là rất nghiêm ngặt. Thụy Điển và Đan Mạch là thành viên của EU, trong khi Na Uy không thuộc EU nhưng tham gia Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA). Trên thực tế, hệ thống pháp luật về thực phẩm của Na Uy phần lớn phản ánh các quy định của EU. Vì vậy, các tiêu chuẩn của EU được xem là cơ sở chung đối với hàng thực phẩm xuất khẩu vào khu vực Bắc Âu. Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy chia sẻ, đối với mặt hàng hạt điều, một trong những nông sản xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, doanh nghiệp trước hết phải tuân thủ các quy định chung về an toàn thực phẩm của EU. Các quy định này bao gồm Luật Thực phẩm chung châu Âu (EC) 178/2022 và các quy định về kiểm soát chính thức đối với thực phẩm theo Quy định (EU) 2017/625. Theo các quy định này, mọi sản phẩm thực phẩm được bán tại EU, Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) và Vương quốc Anh đều phải bảo đảm an toàn, bao gồm cả sản phẩm nhập khẩu. Chỉ các chất phụ gia được phê duyệt mới được phép sử dụng và thực phẩm phải tuân thủ các giới hạn tối đa đối với các chất gây ô nhiễm như vi khuẩn, vi rút, dư lượng thuốc trừ sâu và kim loại nặng. Một yêu cầu quan trọng khác liên quan đến việc ghi nhãn sản phẩm. Đối với hạt điều, nhãn phải thể hiện rõ sản phẩm có chứa chất gây dị ứng hay không. Theo các nghiên cứu, hạt điều được xem là một trong những thực phẩm có thể gây dị ứng mạnh, với các phản ứng lâm sàng nghiêm trọng, thậm chí có thể gây sốc phản vệ. Bên cạnh đó, một số sản phẩm thực vật khi nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật. Theo Quy định (EU) 2019/2072, giấy chứng nhận này là bắt buộc đối với một số loại hạt điều nhập khẩu từ các nước thứ ba. Ngoài yêu cầu về an toàn thực phẩm, các quy định của EU cũng đặt ra giới hạn rất chặt chẽ đối với các chất gây ô nhiễm trong thực phẩm. Quy định (EU) 2023/915 quy định mức tối đa đối với một số chất gây ô nhiễm, trong đó có độc tố nấm mốc aflatoxin. Đối với các loại hạt, bao gồm hạt điều, hàm lượng aflatoxin B1 không được vượt quá 5 µg/kg và tổng hàm lượng aflatoxin (B1, B2, G1, G2) không được vượt quá 10 µg/kg. Các lô hàng vượt quá mức này có thể bị từ chối tại cửa khẩu hoặc bị rút khỏi thị trường. Trên thực tế, đã từng có những trường hợp lô hàng hạt điều bị từ chối tại biên giới châu Âu do nhiễm aflatoxin. Một ví dụ được ghi nhận là lô hàng hạt điều hữu cơ từ Togo bị Hà Lan từ chối vào tháng 12/2021 vì vượt ngưỡng aflatoxin cho phép. Ngoài độc tố nấm mốc, dư lượng thuốc trừ sâu cũng là yếu tố được kiểm soát nghiêm ngặt. EU thiết lập mức dư lượng tối đa (MRL) đối với thuốc trừ sâu trong thực phẩm và thường xuyên cập nhật danh sách các hoạt chất được phép sử dụng. Quy định của Ủy ban châu Âu (EU) 2020/749 đặt ra mức clorat tối đa là 0,1 mg/kg đối với tất cả các loại hạt, bao gồm hạt điều. Dù clorat không phải là thuốc trừ sâu điển hình trong sản xuất hạt điều, chất này có thể xuất hiện do sử dụng nước clo hoặc chất tẩy rửa chứa clo trong quá trình chế biến. Bên cạnh đó, các quy định của EU cũng đặt ra giới hạn đối với kim loại nặng trong thực phẩm. Theo Quy định (EU) 2023/915, mức cadmium tối đa cho phép trong hạt điều là 0,20 mg/kg tính theo trọng lượng ướt. Ngoài ra, các rủi ro về ô nhiễm vi sinh cũng được đặc biệt chú ý. Sự hiện diện của vi khuẩn salmonella hoặc E.coli trong thực phẩm chế biến sẵn có thể gây ra các bệnh lây truyền qua thực phẩm. Vì vậy, các nhà chế biến hạt điều cần đưa các nguy cơ này vào hệ thống phân tích nguy cơ và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP) trong quá trình sản xuất. Có thể thấy, thị trường Thụy Điển nói riêng và khu vực Bắc Âu nói chung mang lại cơ hội cho nông sản Việt Nam nhưng đi kèm là hệ thống tiêu chuẩn và quy định rất chặt chẽ. Doanh nghiệp muốn thâm nhập và duy trì thị trường cần đặc biệt chú trọng đến việc kiểm soát chất lượng trong toàn bộ chuỗi sản xuất, từ vùng nguyên liệu, thu hoạch, bảo quản đến chế biến và xuất khẩu. Để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển đã biên soạn và phát hành ấn phẩm “Nghiên cứu Thị trường Thụy Điển: Xu hướng và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam trong một số ngành hàng thực phẩm”, cung cấp các phân tích về xu hướng tiêu dùng, cơ cấu nhập khẩu, hệ thống phân phối và các yêu cầu pháp lý của thị trường này.
Xem thêm

Cá rô phi Việt Nam tăng mạnh xuất khẩu, bứt tốc tại thị trường Brazil và Mỹ

Đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi Việt Nam tăng mạnh hơn 300%, phản ánh sự dịch chuyển đáng chú ý của thị trường khi Brazil nổi lên dẫn đầu và Mỹ tiếp tục mở rộng vai trò trong chuỗi cung ứng. Tháng 1/2026, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt khoảng 15 triệu USD, tăng mạnh 334% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng trưởng đột biến này phản ánh xu hướng mở rộng thị trường của ngành cá rô phi Việt Nam, đồng thời cho thấy sự thay đổi đáng chú ý trong cơ cấu tiêu thụ giữa các khu vực. Trong nhóm thị trường đơn lẻ, Brazil bất ngờ vươn lên vị trí dẫn đầu với kim ngạch đạt 8 triệu USD trong tháng đầu năm, chiếm tới 56% tổng giá trị xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam. Đây được xem là bước bứt phá rõ rệt, cho thấy nhu cầu nhập khẩu tại thị trường Nam Mỹ đang gia tăng mạnh mẽ. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đánh giá, đây là mức bứt phá rõ rệt, cho thấy nhu cầu nhập khẩu tại thị trường Nam Mỹ đang tăng mạnh. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ thị hiếu tiêu dùng của Brazil, nơi người tiêu dùng ưa chuộng các sản phẩm phi lê hoặc cá cắt khúc để tự chế biến tại nhà, phù hợp với lợi thế sản phẩm nguyên liệu của Việt Nam. Tháng 1/2026, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt khoảng 15 triệu USD, tăng mạnh 334% so với cùng kỳ năm 2025. Đứng thứ hai trong danh sách các thị trường nhập khẩu là Mỹ với kim ngạch đạt khoảng 3 triệu USD trong tháng 1/2026, chiếm 21% tổng xuất khẩu. So với tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này có giảm nhẹ, tuy nhiên mức sụt giảm được đánh giá là mang tính chu kỳ. Theo các chuyên gia ngành thủy sản, trong quý IV/2025, các nhà nhập khẩu Mỹ đã tăng cường mua hàng để phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong mùa lễ hội cuối năm. Do đó, bước sang tháng đầu năm, lượng nhập khẩu thường có xu hướng chững lại. Dù vậy, về dài hạn, Mỹ vẫn được đánh giá là thị trường duy trì nhu cầu tương đối ổn định đối với cá rô phi Việt Nam. Các vị trí tiếp theo trong top 5 thị trường xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam lần lượt thuộc về Ả Rập Xê Út với kim ngạch 791 nghìn USD, tăng mạnh so với tháng trước; Cộng hòa Dominica đạt 503 nghìn USD; và Nhật Bản đạt 372 nghìn USD. Dù quy mô kim ngạch còn khiêm tốn, nhóm thị trường này đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, cho thấy dư địa mở rộng vẫn còn khá lớn. Xét theo khối thị trường, khu vực Trung Đông đạt kim ngạch 948 nghìn USD trong tháng 1/2026, tăng mạnh 1.239% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) đạt 764 nghìn USD, tăng 276%. Đáng chú ý, xu hướng tiêu dùng tại Mỹ và EU đang nghiêng nhiều hơn về các sản phẩm cá rô phi chế biến sâu, giá trị gia tăng, tiện lợi và tiết kiệm thời gian nấu nướng. Đây là nhóm sản phẩm phù hợp với nhịp sống nhanh tại các đô thị lớn, đồng thời tạo dư địa cho các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu. Mỹ vẫn là động lực tăng trưởng của ngành cá rô phi Bên cạnh sự bứt phá của các thị trường truyền thống, một yếu tố đáng chú ý trong bức tranh ngành cá rô phi Việt Nam là vai trò ngày càng rõ nét của Mỹ trong chuỗi cung ứng cá thịt trắng toàn cầu. Đầu năm 2026, Mỹ công bố kế hoạch đầu tư khoảng 15,2 triệu USD vào ngành cá rô phi Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tới. Khoản đầu tư này được định hướng tập trung vào mở rộng quy mô nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như tăng cường năng lực chế biến và xuất khẩu. Theo kế hoạch, mục tiêu dài hạn là đưa kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam vượt mốc 1 tỷ USD, với sản lượng dự kiến đạt khoảng 1,21 triệu tấn. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng một nguồn cung cá thịt trắng ổn định cho thị trường Mỹ, đồng thời tận dụng lợi thế về chi phí và mức thuế nhập khẩu thấp hơn so với một số quốc gia khác. Thực tế, vai trò “đầu kéo” của Mỹ đối với cá rô phi Việt Nam đã hình thành từ trước khi dòng vốn đầu tư được công bố. Trong năm 2025, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam tăng tới 141% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu sang Mỹ tăng tới 173%. Đáng chú ý, nhóm sản phẩm phi lê cá rô phi đông lạnh đang trở thành động lực tăng trưởng chính, phản ánh sự phù hợp ngày càng cao giữa năng lực chế biến của doanh nghiệp Việt Nam và nhu cầu tiêu thụ tại thị trường Mỹ. Không chỉ dừng lại ở khía cạnh thương mại, sự tham gia của Mỹ còn gắn với nhiều yếu tố trong chuỗi giá trị, từ hệ thống thức ăn chăn nuôi, tiêu chuẩn sản xuất cho đến công nghệ chế biến sâu. Điều này giúp ngành cá rô phi Việt Nam từng bước nâng cao mức độ tiêu chuẩn hóa, hướng tới vị thế một trung tâm cung ứng cá rô phi có chất lượng ổn định trong khu vực. Ở chiều ngược lại, sự dịch chuyển nhu cầu của thị trường Mỹ sang Việt Nam cũng đang tạo ra tác động rõ rệt đối với thị trường cá rô phi Trung Quốc. Trong nhiều năm, chu kỳ giá cá rô phi tại Trung Quốc chủ yếu vận hành theo quan hệ cung - cầu nội địa. Tuy nhiên, từ năm 2025 đến đầu năm 2026, dù sản lượng thả nuôi giảm và nguồn cung có dấu hiệu thắt chặt, giá cá rô phi tại Trung Quốc vẫn dao động trong vùng thấp và khó phục hồi. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở yếu tố xuất khẩu. Cá rô phi Trung Quốc hiện phải chịu mức thuế khoảng 55% khi vào thị trường Mỹ, khiến khả năng cạnh tranh suy giảm đáng kể. Khi nhu cầu nhập khẩu của Mỹ chuyển hướng sang Việt Nam, việc Trung Quốc cắt giảm sản lượng không còn tạo ra hiệu ứng đẩy giá mạnh như trước. Do đó, chu kỳ giá cá rô phi tại Trung Quốc đang có xu hướng “phẳng” hơn, với biên độ tăng bị thu hẹp. Dù vậy, giới chuyên gia cho rằng Việt Nam chưa thể thay thế hoàn toàn Trung Quốc về quy mô sản xuất tổng thể. Trung Quốc vẫn duy trì lợi thế về sản lượng lớn, hệ thống chế biến quy mô và danh mục sản phẩm đa dạng. Điều đang thay đổi hiện nay không phải là thị phần hiện hữu, mà là dòng chảy của nhu cầu mới trên thị trường quốc tế. Các đơn hàng tăng thêm từ nhiều nhà nhập khẩu đang nghiêng dần về Việt Nam, trong khi Trung Quốc phải đối mặt với áp lực giá kéo dài. Kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong năm 2025 đạt 99 triệu USD, tăng 141% so với năm 2024. Kết quả này cho thấy cá rô phi đang nổi lên là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng cao trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, bước sang năm 2026, đa dạng hóa thị trường sang châu Âu, Trung Đông và Nam Mỹ được xem là hướng đi cần thiết nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường đơn lẻ. Đồng thời, phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng, cùng với đầu tư cải tiến giống, công nghệ nuôi và chế biến sâu gắn với tiêu chuẩn bền vững, sẽ là nền tảng để ngành cá rô phi Việt Nam duy trì đà tăng trưởng và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Xem thêm

Nông sản Việt khẳng định thương hiệu tại World Food India 2025

Hội chợ Triển lãm Thực phẩm Thế giới Ấn Độ - World Food India 2025 (WFI 2025) diễn ra từ ngày 25 đến 28/9/2025 tại thủ đô New Delhi, Ấn Độ. Hội chợ Triển lãm Thực phẩm Thế giới Ấn Độ - World Food India 2025 (WFI 2025) diễn ra từ ngày 25 đến 28/9/2025 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc tế Bharat Mandapam, thủ đô New Delhi, Ấn Độ. Đây là lần thứ 4 hội chợ được tổ chức với quy mô hơn 100.000 m², quy tụ hơn 1.500 doanh nghiệp, gần 2.400 đại biểu quốc tế, hơn 800 nhà mua đến từ 90 quốc gia và thu hút hơn 100.000 lượt khách tham quan. WFI 2025 là sự kiện quốc tế quan trọng, góp phần định vị Ấn Độ như một trung tâm chế biến và cung ứng thực phẩm toàn cầu. Tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhấn mạnh rằng Ấn Độ sở hữu 3 sức mạnh chiến lược là đa dạng, nhu cầu và quy mô". Ấn Độ với dân số hơn 1,4 tỷ người là thị trường thực phẩm giàu tiềm năng đồng thời cũng là một trong những quốc gia có ngành công nghiệp thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới. Trong giai đoạn 2024-2025, xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến đạt 49,4 tỷ USD, trong đó thực phẩm chế biến chiếm 20,4%. Trong vòng một thập kỷ qua, lĩnh vực chế biến thực phẩm của Ấn Độ đã thu hút 7,33 tỷ USD FDI. Thủ tướng Ấn Độ N.Modi khẳng định Ấn Độ sẵn sàng hợp tác toàn cầu trên toàn chuỗi giá trị thực phẩm, mở rộng cửa đón nhận đầu tư quốc tế. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc hội chợ Trong khuôn khổ hội chợ năm nay, Việt Nam tiếp tục được lựa chọn là Quốc gia Trọng điểm (Focus Country) lần thứ hai liên tiếp, cùng với Nhật Bản, UAE và Nga. Đây là minh chứng cho sự đánh giá cao của quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trên bản đồ ngành thực phẩm toàn cầu. Tại lễ khai mạc và cắt băng khánh thành Khu gian hàng Việt Nam, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải khẳng định sự hiện diện tích cực của doanh nghiệp Việt Nam tại hội chợ không chỉ góp phần thúc đẩy xuất khẩu mà còn quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Đại sứ bày tỏ kỳ vọng sự kiện sẽ tạo thêm động lực để quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Ấn Độ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu đạt 20 tỷ USD kim ngạch thương mại song phương như lãnh đạo hai nước đã đề ra. Cắt băng khánh thành khu gian hàng Việt Nam Phát biểu khai mạc gian hàng Việt Nam, ông Bùi Trung Thướng, Tham tán Thương mại Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ cho rằng, WFI 2025 là một trong những hội chợ chuyên ngành thực phẩm có quy mô lớn và uy tín hàng đầu thế giới. Việc các doanh nghiệp Việt Nam hiện diện tại đây thể hiện quyết tâm mở rộng thị trường, quảng bá sản phẩm. Đồng thời thúc đẩy hợp tác thương mại – đầu tư song phương, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản và thực phẩm chế biến. Khu gian hàng Việt Nam như một cầu nối hiệu quả, giúp doanh nghiệp hai nước xây dựng các mối quan hệ đối tác bền vững, góp phần phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm khu vực và toàn cầu. Khu gian hàng quốc gia Việt Nam do Thương vụ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh tổ chức Khu gian hàng quốc gia Việt Nam do Thương vụ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh tổ chức có diện tích 150 m² với sự tham gia của 15 doanh nghiệp nông sản tiêu biểu như: Cà phê Napoli, Vinacafe, sữa hạt Vinamilk, bánh dừa Mỹ Phương Food, gạo, hạt điều và trái cây sấy của Nuts House, nước trái cây Bảo Hưng, tương ớt Tomcare Chilica, thực phẩm hữu cơ Duy Anh Foods, sản phẩm thực dưỡng của Eherbal, chè Vân Phong... Các sản phẩm này đã thu hút sự quan tâm và đánh giá cao từ các nhà mua hàng Ấn Độ và quốc tế. Với sự hỗ trợ tích cực của Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ, đoàn doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động như trưng bày sản phẩm, kết nối giao thương, gặp gỡ người mua – người bán, tham quan triển lãm, diễn đàn xúc tiến xuất khẩu và công nghệ đổi mới... Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện trực tiếp tiếp xúc đối tác, mở rộng quan hệ, học hỏi xu hướng tiêu dùng và công nghệ mới, từng bước khẳng định dấu ấn Việt Nam trong chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu. 15 doanh nghiệp nông sản tiêu biểu của Việt Nam tham gia hội chợ Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ tổ chức và hỗ trợ doanh nghiệp tham dự Hội chợ World Food India 2025 là hoạt động hiện thực hóa chỉ đạo của Bộ Công Thương về thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị nông sản Việt Nam. Với tinh thần chủ động, tích cực, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ đã đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đưa tinh hoa nông sản Việt vươn xa tại thị trường Ấn Độ, đồng thời góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ thực phẩm toàn cầu.
Xem thêm
25/02/2026

Cấp C/O điện tử qua eCoSys: Doanh nghiệp đánh giá cao bước nâng cấp đột phá

Việc chuyển từ cấp C/O truyền thống sang nền tảng eCoSys, đặc biệt sau phiên bản nâng cấp, đang giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tăng tính chủ động. Rút ngắn thời gian, giảm chi phí, giải phóng nguồn lực Việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) là một trong những khâu then chốt để doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong bối cảnh xuất nhập khẩu ngày càng đòi hỏi tốc độ và tính chính xác cao, chuyển đổi từ phương thức cấp C/O truyền thống sang hệ thống điện tử eCoSys được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là bước đi đúng và trúng của cơ quan quản lý. Chuyển đổi từ phương thức cấp C/O truyền thống sang hệ thống điện tử eCoSys được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là bước đi đúng và trúng của cơ quan quản lý. Ảnh chụp màn hình Những phản hồi trực tiếp từ doanh nghiệp logistics - lực lượng thường xuyên thực hiện thủ tục C/O cho thấy hiệu quả rõ rệt cả về thời gian, chi phí lẫn cách thức tổ chức công việc. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đào Tuấn Anh, cán bộ Công ty Sankyu Logistics cho biết, sự thay đổi dễ nhận thấy nhất khi chuyển sang eCoSys là ở 3 yếu tố: thời gian, chi phí và con người. Trước đây, mỗi bộ hồ sơ xin cấp C/O đều phải in ấn đầy đủ, mang trực tiếp tới cơ quan cấp và chờ khoảng một ngày mới có kết quả. Sau đó, bản cứng C/O lại tiếp tục được gửi sang đối tác nước ngoài, mất thêm từ 3 - 5 ngày. Quy trình này không chỉ kéo dài thời gian xử lý mà còn phát sinh chi phí in ấn, nhân sự đi lại và nguy cơ chậm tiến độ giao hàng. Trong khi đó, với hệ thống eCoSys, thời gian xử lý hồ sơ đã được rút ngắn đáng kể. Theo ông Đào Tuấn Anh, khi hồ sơ được duyệt trên hệ thống điện tử, toàn bộ quá trình chỉ mất khoảng 2-3 tiếng. Kết quả C/O điện tử có thể gửi ngay cho đối tác, giúp tổng thời gian hoàn tất thủ tục chỉ còn trong vòng 3-5 tiếng. Sự thay đổi này tạo ra khác biệt lớn trong hoạt động dịch vụ logistics, đặc biệt với những lô hàng cần thông quan nhanh hoặc có lịch tàu, lịch bay chặt chẽ. Việc giảm mạnh thời gian chờ đợi cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực nhân sự. Cùng chung đánh giá, bà Nguyễn Thị Kim Dung, đại diện Công ty CP Logistics ASG cho rằng, việc cấp C/O điện tử đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đi lại và đảm bảo tiến độ xuất khẩu. Trước đây, doanh nghiệp phải in hồ sơ, mang tới cơ sở cấp C/O và chờ đợi. Nay, toàn bộ quy trình được thực hiện ngay tại cơ sở sản xuất thông qua khai báo trên hệ thống. Đáng chú ý, mọi phản hồi về lỗi hay thiếu sót hồ sơ đều được cán bộ xét duyệt thông báo trực tiếp trên eCoSys. Doanh nghiệp có thể bổ sung, chỉnh sửa ngay trong ngày, thay vì phải đi lại nhiều lần như trước. Tăng tính chủ động, minh bạch và kỳ vọng vận hành ổn định Không chỉ rút ngắn thời gian, eCoSys còn mang lại sự thay đổi căn bản về cách thức làm việc giữa doanh nghiệp và cơ quan cấp C/O. Bà Nguyễn Thị Kim Dung dẫn ví dụ với việc làm C/O form B, trước đây doanh nghiệp phải chuẩn bị khối lượng lớn giấy tờ, có khi lên tới cả một thùng hồ sơ. Việc in ấn, sắp xếp và vận chuyển hồ sơ vừa tốn kém vừa tiềm ẩn rủi ro sai sót. Với hình thức điện tử, toàn bộ chứng từ được tải lên hệ thống, cán bộ xét duyệt trực tiếp trên nền tảng số. Nếu hồ sơ chưa đạt yêu cầu, phản hồi được gửi ngay, giúp doanh nghiệp chủ động chỉnh sửa, hoàn thiện mà không bị gián đoạn quy trình. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao tính minh bạch và khả năng kiểm soát tiến độ. Từ ngày 22/12/2025, Bộ Công Thương đưa vào vận hành phiên bản eCoSys nâng cấp. Theo ông Đào Tuấn Anh, sau khi trải nghiệm, có thể thấy hệ thống vận hành nhanh hơn và không còn tình trạng quá tải như trước. Doanh nghiệp kỳ vọng eCoSys sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng “nhanh, gọn và hiệu quả”, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu và tận dụng tốt hơn các ưu đãi từ các FTA. Với phía Công ty CP Logistics ASG, bà Nguyễn Thị Kim Dung cũng đánh giá việc cải tiến, nâng cấp hệ thống đã giúp quá trình cấp C/O diễn ra thông suốt hơn, đảm bảo tiến độ và giảm áp lực cho doanh nghiệp trong những giai đoạn cao điểm. Kỳ vọng lớn nhất của doanh nghiệp là hệ thống tiếp tục vận hành ổn định, hạn chế tối đa sự cố kỹ thuật để đồng hành lâu dài cùng hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế triển khai, có thể thấy việc số hóa và nâng cấp hệ thống cấp C/O không chỉ mang ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính, mà còn tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Khi thời gian được rút ngắn, chi phí được tiết giảm và tính chủ động được nâng cao, C/O điện tử qua eCoSys đang trở thành một công cụ hỗ trợ thiết thực, giúp doanh nghiệp tự tin hơn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế và khai thác hiệu quả các cam kết hội nhập
Xem thêm

BECHAMP – “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”

29/09/2025
BECHAMP – Thương hiệu cà phê hữu cơ tiên phong từ Đắk Nông Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng lan rộng, nhiều thương hiệu nông sản Việt Nam đã và đang chuyển mình để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nổi bật trong số đó là BECHAMP – Hợp tác xã Nông sản hữu cơ tại Đắk Nông, đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nguyên lý khoa học vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Triết lý từ nền tảng khoa học Tên gọi BECHAMP được lấy cảm hứng từ nhà khoa học Antoine Bechamp – người đề cao sự cân bằng giữa các vi sinh vật trong tự nhiên. Triết lý này đã trở thành kim chỉ nam cho thương hiệu: tạo môi trường canh tác thuận lợi để vi sinh vật có lợi phát triển, từ đó giúp cây trồng khỏe mạnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất và mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Hướng tới nông nghiệp sạch và bền vững BECHAMP ứng dụng các chế phẩm sinh học từ nguyên liệu tự nhiên như cá, đậu tương, thân chuối, xác bã thực vật… nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất và nâng cao sức đề kháng của cây trồng. Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu canh tác, chăm sóc đến chế biến, đảm bảo tiêu chí sạch, hữu cơ và thân thiện với môi trường. Không chỉ dừng ở đó, BECHAMP còn tích cực hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, tư vấn miễn phí kỹ thuật sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Đây cũng là một trong những điểm nhấn giúp thương hiệu khẳng định uy tín, đồng hành cùng cộng đồng. Sản phẩm đặc trưng vùng đất đỏ bazan Đắk Nông được biết đến là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nơi tạo nên hương vị đặc biệt cho cà phê. BECHAMP đã khai thác lợi thế này để cho ra đời nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như: beCHAMP Coffee Gu Mạnh, beCHAMP Coffee Honey Nắng Vàng, beCHAMP Coffee Natural Nắng Vàng… Các sản phẩm không chỉ giữ trọn hương vị nguyên bản của cà phê Việt mà còn đảm bảo an toàn, giàu giá trị dinh dưỡng. Thương hiệu uy tín – Hướng đến tương lai xanh Với phương châm “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”, BECHAMP đang dần trở thành thương hiệu cà phê hữu cơ uy tín, góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường trong và ngoài nước. Sự minh bạch trong quy trình sản xuất, cam kết chất lượng cùng định hướng phát triển bền vững đã giúp BECHAMP tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Trong tương lai, BECHAMP không chỉ dừng lại ở thị trường cà phê hữu cơ mà còn hướng tới mở rộng mô hình nông nghiệp xanh, lan tỏa giá trị bền vững đến nhiều lĩnh vực khác, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại và thân thiện với môi trường.
Đọc thêm0

VIHAMARK - Chuẩn vị tự nhiên – Tự hào thương hiệu Việt

02/08/2025
Vihamark – Khẳng định vị thế thương hiệu nước giải khát Việt từ nguồn nguyên liệu tự nhiên Trong hành trình hội nhập và phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Vihamark đang dần định hình vị thế là một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất nước giải khát thiên nhiên chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác tối đa giá trị từ nông sản bản địa. Với triết lý “Tự nhiên là chuẩn mực”, Vihamark không ngừng đổi mới để mang đến những sản phẩm tốt cho sức khỏe, gắn kết giữa con người – thiên nhiên – công nghệ một cách hài hòa và bền vững. Hành trình kiến tạo thương hiệu từ nền tảng giá trị thật Thành lập từ năm 2016, Vihamark khởi nguồn tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (Hà Nam) với khát vọng trở thành thương hiệu giải khát Việt Nam tiêu biểu, sánh ngang cùng các thương hiệu khu vực. Không đi theo lối mòn của các dòng nước uống đóng chai đại trà, Vihamark lựa chọn hướng đi khác biệt: tập trung vào sản phẩm nước giải khát từ nguyên liệu tự nhiên, không chất bảo quản, hàm lượng dinh dưỡng cao và vị ngon thuần khiết. Trải qua gần một thập kỷ phát triển, Vihamark đã mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với gần 30 dòng nước giải khát, từ nước trái cây, nước thảo dược đến nước yến, nha đam, dừa, mãng cầu, măng cụt... Tất cả đều được nghiên cứu và phát triển dựa trên tinh thần “thức uống lành, chuẩn vị tự nhiên”, đáp ứng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng từ thành thị đến nông thôn, từ nội địa đến xuất khẩu. Công nghệ – Nhân sự – Quản trị: Ba trụ cột kiến tạo chất lượng Chất lượng sản phẩm của Vihamark là kết tinh của ba yếu tố: công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực tận tâm, và hệ thống quản lý khoa học. Tại nhà máy Vihamark đặt tại Hà Nam, công ty đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Nhật Bản, áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018. Mỗi công đoạn – từ chọn lọc nguyên liệu, xử lý, chiết rót, đóng gói – đều được kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo không chỉ vị ngon mà còn sự an toàn tối đa cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân sự của Vihamark, với hơn 100 cán bộ công nhân viên, là những người trẻ năng động, yêu nghề và luôn đề cao tinh thần sáng tạo – chính trực. Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng đề cao giá trị con người, khuyến khích học hỏi và gắn bó lâu dài, từ đó thúc đẩy năng suất và chất lượng lao động. Đa dạng sản phẩm – Định hình thị phần Nhận thức rõ vai trò của sự khác biệt trong xây dựng thương hiệu, Vihamark liên tục nghiên cứu và ra mắt các dòng sản phẩm mới, với điểm nhấn là các sản phẩm chứa thạch dừa, trái cây miền nhiệt đới, và nước yến chưng bổ dưỡng. Những sản phẩm như nước mãng cầu xiêm thạch dừa, nước măng cụt, nước nha đam mật ong, yến sào collagen, nước yến đường ăn kiêng… không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị mà còn tạo dựng niềm tin về giá trị sức khỏe và sự tiện lợi. Đặc biệt, Vihamark xây dựng hệ thống thương hiệu mang tính phân khúc như: FPI 100 – Nước ép trái cây tươi nguyên chất Quà tặng từ thiên nhiên – Dòng sản phẩm quà biếu cao cấp Năng lượng bất tận – Dòng nước uống bổ sung năng lượng Chuẩn vị tự nhiên – Dòng nước giải khát truyền thống kết hợp hiện đại Thị trường rộng mở – Tầm nhìn toàn cầu Từ một nhà sản xuất nội địa, Vihamark đã phát triển hệ thống phân phối rộng khắp ba miền Việt Nam, với hàng ngàn điểm bán lẻ và đối tác chiến lược. Không dừng lại ở đó, sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thị trường quốc tế, phục vụ cộng đồng người Việt và khách hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Định hướng đến năm 2030, Vihamark đặt mục tiêu trở thành top 5 thương hiệu nước giải khát tự nhiên được yêu thích nhất tại Đông Nam Á, đồng thời gia tăng sản lượng xuất khẩu gấp 3 lần hiện tại. Để hiện thực hóa điều đó, công ty đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm nhà máy mới tại các tỉnh trọng điểm nông nghiệp, đồng thời số hóa hệ thống quản trị và bán hàng. Cam kết phát triển bền vững Không chỉ kinh doanh hiệu quả, Vihamark còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ việc thu mua nguyên liệu từ nông dân với giá ổn định, tham gia các chương trình hỗ trợ phát triển vùng trồng bền vững, cho đến các hoạt động thiện nguyện, tài trợ học bổng, bảo vệ môi trường – tất cả thể hiện triết lý kinh doanh nhân văn mà công ty theo đuổi. Vihamark không chỉ là một thương hiệu nước giải khát – mà là biểu tượng cho một triết lý sống khỏe, sống xanh, sống lành mạnh cùng thiên nhiên. Với nền tảng vững chắc và chiến lược rõ ràng, Tập đoàn Vihamark đang sẵn sàng cho hành trình bứt phá tiếp theo, đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.
Đọc thêm0

Yến sào FanZa – Khởi nguồn sức sống, kết nối niềm tin

09/07/2025
Yến sào FanZa là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm yến sào chất lượng cao tại Việt Nam. Với sứ mệnh “Mang tinh hoa yến Việt đến với mọi gia đình trên toàn thế giới”, FanZa không ngừng đầu tư vào công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất khép kín và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tối ưu, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. 🌿 Sản phẩm đa dạng, chất lượng vượt trội FanZa cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm yến sào như: yến thô, yến tinh chế, yến chưng sẵn, yến chưng đường phèn, yến sào kết hợp thảo dược… Tất cả sản phẩm đều được chế biến từ nguồn yến tự nhiên khai thác tại các vùng yến nổi tiếng của Việt Nam, đảm bảo giữ trọn hàm lượng dinh dưỡng quý giá. 🏭 Nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhà máy FanZa được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở mức cao nhất. Mọi khâu từ tuyển chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói đều được kiểm soát nghiêm ngặt bằng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. 🚀 Tầm nhìn - Sứ mệnh - Giá trị cốt lõi FanZa đặt mục tiêu trở thành thương hiệu yến sào hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng tầm giá trị yến sào Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chúng tôi cam kết mang đến sản phẩm yến sào nguyên chất, an toàn, giàu dinh dưỡng cùng dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm. FanZa luôn đề cao các giá trị: Chất lượng – Uy tín – Sáng tạo – Phát triển bền vững. 🤝 Đối tác tin cậy FanZa đã và đang trở thành đối tác tin cậy của nhiều hệ thống phân phối, siêu thị, doanh nghiệp xuất khẩu tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, và EU.
Đọc thêm0

Nguyên Hậu – Chất lượng song hành, phát triển bền vững

09/07/2025
Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Nguyên Hậu (Nguyen Hau Import Export Joint Stock Company) là một doanh nghiệp uy tín tại Đồng Tháp, chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thủy hải sản chế biến. Doanh nghiệp tự hào sở hữu hệ thống sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến và dây chuyền khép kín có chứng nhận quốc tế như ISO và HACCP, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng ổn định đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước  ✅ Sản phẩm đa dạng & phân phối toàn quốc 🔸 Bánh phồng tôm – đặc sản chủ lực Là sản phẩm mang dấu ấn của thương hiệu Nguyên Hậu, bánh phồng tôm được làm từ tôm tươi, bột năng và các gia vị truyền thống. Sản phẩm có nhiều kích cỡ, phù hợp với tiêu chuẩn nội địa và xuất khẩu, được ưa chuộng tại nhiều thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và EU. 🔸 Thực phẩm sơ chế & tiện lợi Bột gạo, bột năng, bột bắp, bột mì: phục vụ chế biến thực phẩm, làm bánh và gia dụng. Bún gạo khô, bánh tráng, bánh hỏi: sản phẩm truyền thống đóng gói tiện lợi, xuất khẩu mạnh sang châu Á và Bắc Mỹ. 🔸 Thủy hải sản đông lạnh Tôm sú, tôm thẻ, cá tra fillet: chế biến và cấp đông ngay tại xưởng đạt chuẩn HACCP. Các mặt hàng được kiểm định chất lượng nghiêm ngặt, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. 🔸 Thực phẩm ăn liền – đóng gói Bánh gạo, bánh snack, bánh quy tôm, mì ăn liền... Phát triển theo định hướng tiện lợi – bổ dưỡng – phù hợp khẩu vị Á Đông. 🔸 Sản phẩm OEM & nhãn riêng Nguyên Hậu nhận gia công và sản xuất theo yêu cầu cho các đối tác trong và ngoài nước, cung cấp đầy đủ hồ sơ xuất khẩu, bao bì chuyên nghiệp và linh hoạt tùy thị trường. 🏭 Quy trình sản xuất – Kiểm soát chất lượng Từ khâu chọn lọc nguyên liệu đến chế biến và đóng gói, mọi công đoạn đều áp dụng quy trình sản xuất khép kín, tự động hóa và giám sát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO, HACCP. Nhờ vậy, sản phẩm luôn giữ chất lượng cao và an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người tiêu dùng  🌍 Tầm nhìn và sứ mệnh Nguyen Hau xác định chất lượng là chiến lược tiếp cận thị trường và phát triển bền vững. Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp chế biến thực phẩm hàng đầu tại Đồng Tháp và nằm trong TOP 10 công ty thực phẩm uy tín tại Việt Nam, công ty cam kết mang đến dòng sản phẩm tuyệt hảo – được người tiêu dùng tin tưởng trong nước và quốc tế
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: