Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

31/12/2025

IMEX NEWS THAM GIA HỘI NGHỊ THAM TÁN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2025, THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI

Hội nghị Tham tán Thương mại Việt Nam 2025: Tăng cường phối hợp phát triển chuỗi cung ứng và hỗ trợ xuất khẩu Hà Nội – Chiều ngày 30/12/2025, tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Tham tán Thương mại Việt Nam năm 2025 với sự tham dự của Quyền Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, Thứ trưởng Phan Thị Thắng, lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, cùng hệ thống Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, các hiệp hội ngành hàng và đại diện nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hội nghị năm nay có sự tham gia của các doanh nghiệp đang trực tiếp triển khai hoạt động xuất khẩu và phân phối hàng hóa tại thị trường quốc tế, trong đó có IMEX NEWS – đơn vị trực tiếp phân phối, sở hữu và vận hành chuỗi cung ứng tại thị trường Trung Quốc, đồng thời hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Phát biểu tại hội nghị, Quyền Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, thương mại toàn cầu tiếp tục chịu tác động từ biến động kinh tế, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, cùng các yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh đó, việc phát triển các doanh nghiệp có năng lực phân phối trực tiếp và sở hữu chuỗi cung ứng tại thị trường nước ngoài được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu, gia tăng giá trị hàng hóa và giảm thiểu rủi ro trong quá trình đưa sản phẩm Việt Nam ra thị trường quốc tế. Theo đánh giá tại hội nghị, hệ thống Tham tán Thương mại và Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại các thị trường trọng điểm tiếp tục phát huy vai trò cung cấp thông tin chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Đối với thị trường Trung Quốc, Thương vụ Việt Nam được đánh giá là kênh hỗ trợ quan trọng giúp doanh nghiệp và các đơn vị phân phối trực tiếp cập nhật kịp thời các quy định nhập khẩu, tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu về kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và xu hướng tiêu dùng, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, xuất khẩu phù hợp. Tham dự hội nghị, IMEX NEWS đã trao đổi với các đơn vị chức năng và hệ thống Thương vụ về định hướng phát triển thị trường Trung Quốc và các thị trường nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực phân phối và tiêu thụ hàng hóa Việt Nam thông qua chuỗi cung ứng do doanh nghiệp trực tiếp sở hữu và vận hành. Việc các doanh nghiệp có năng lực chuỗi cung ứng tham gia hội nghị được đánh giá là góp phần tăng cường tính thực chất trong hoạt động xúc tiến thương mại, gắn kết chặt chẽ hơn giữa chính sách hỗ trợ xuất khẩu và nhu cầu thực tế của thị trường quốc tế. Hội nghị Tham tán Thương mại Việt Nam 2025 là diễn đàn quan trọng để Bộ Công Thương, hệ thống Thương vụ và cộng đồng doanh nghiệp cùng trao đổi, thống nhất định hướng phối hợp trong giai đoạn tới. Thông qua hội nghị, các doanh nghiệp tham dự, trong đó có IMEX NEWS, kỳ vọng sẽ tiếp tục đồng hành cùng các chương trình phát triển thị trường, góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Trung Quốc nói riêng và thị trường nước ngoài nói chung theo hướng ổn định, hiệu quả và bền vững, gắn với năng lực phân phối và chuỗi cung ứng thực tế tại thị trường sở tại.
Xem thêm

Tin tức

Tạm ngừng áp dụng Nghị định 46: Doanh nghiệp hồ tiêu được tháo gỡ kịp thời

Việc Chính phủ tạm ngừng áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP đã hỗ trợ doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp hồ tiêu nói riêng duy trì xuất nhập khẩu ổn định đầu năm. Xuất khẩu khởi sắc, nhập khẩu tăng mạnh đầu năm Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đạt 139 triệu USD. Trong đó, tiêu đen đạt 109,7 triệu USD, tiêu trắng đạt 29,3 triệu USD. So với tháng 12/2025, lượng xuất khẩu giảm nhẹ 3,2%, song so với cùng kỳ tháng 1/2025 lại tăng mạnh 66,2%, cho thấy tín hiệu phục hồi và bứt tốc rõ nét ngay từ đầu năm. Tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đạt 139 triệu USD. Ảnh minh họa Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen đạt 6.494 USD/tấn, tương đương tháng trước; tiêu trắng đạt 8.450 USD/tấn, giảm 115 USD/tấn so với tháng 12/2025. Mức giá duy trì ổn định trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động được đánh giá là yếu tố tích cực, tạo nền tảng cho tăng trưởng kim ngạch. Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm đến lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam với 5.154 tấn, chiếm 23,7% thị phần, dù giảm 17,3% so với tháng trước. Trung Quốc đứng thứ hai với 3.339 tấn, chiếm 15,4% thị phần, tăng mạnh 53,2%. UAE đạt 1.549 tấn, chiếm 7,1% thị phần, giảm 32,7%. Ba doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất trong tháng gồm Nedspice Việt Nam (1.848 tấn), Phúc Sinh (1.641 tấn) và Simexco Đắk Lắk (1.595 tấn), tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt thị trường. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hồ tiêu trong tháng 1/2026 đạt 26,2 triệu USD, tăng 91,4% so với tháng 12/2025 và tăng 157,6% so với cùng kỳ năm trước. Campuchia, Brazil và Indonesia là ba nguồn cung lớn nhất, lần lượt đạt 2.326 tấn, 1.284 tấn và 668 tấn. Diễn biến này cho thấy hoạt động thương mại hai chiều của ngành hồ tiêu diễn ra sôi động ngay từ đầu năm. Kiến nghị điều chỉnh theo hướng linh hoạt Là ngành hàng có hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đan xen, doanh nghiệp hồ tiêu chịu tác động trực tiếp từ Nghị định số 46/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm. Trước những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP, quyết định tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định 46 đến hết ngày 15/4/2026. Trong thời gian này, Nghị định 15/2018/NĐ-CP tiếp tục được áp dụng. Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn, tháo gỡ ách tắc tại cửa khẩu, bảo đảm thông quan kịp thời thực phẩm, hàng hóa xuất nhập khẩu; đồng thời lưu ý việc ban hành chính sách phải có điều khoản chuyển tiếp cụ thể, tránh gây xáo trộn cho doanh nghiệp. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương chiều 7/2, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPSA, đánh giá việc tạm ngưng hiệu lực Nghị định 46 là quyết định kịp thời, thể hiện tinh thần điều hành linh hoạt của Chính phủ, góp phần giải tỏa áp lực cho doanh nghiệp trong giai đoạn cao điểm đầu năm. Theo VPSA, hồ tiêu và gia vị khô là nhóm sản phẩm có mức độ rủi ro an toàn thực phẩm thấp, đã được thương mại hóa toàn cầu trong thời gian dài. Chuỗi cung ứng mang tính thương mại cao, luân chuyển nhanh, phổ biến mô hình giao dịch qua thương nhân, kho trung chuyển và tái xuất. Trong thực tế, việc hàng xuất khẩu bị trả về là tình huống thương mại bình thường, cần có cơ chế xử lý linh hoạt để giảm thiểu thiệt hại. Đáng lưu ý, nhiều quốc gia không cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm (Health Certificate) cho gia vị khô, dù sản phẩm vẫn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, việc áp dụng đồng loạt cơ chế quản lý thiết kế cho thực phẩm rủi ro cao như thịt, thủy sản đối với hồ tiêu có thể chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù thương mại của ngành. Trên cơ sở đó, bà Hoàng Thị Liên kiến nghị rà soát, điều chỉnh phạm vi áp dụng Điều 10 của Nghị định 46, trong đó có yêu cầu quốc gia xuất khẩu phải được Việt Nam chấp thuận, cơ sở sản xuất nước ngoài phải được công nhận và mỗi lô hàng phải có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Các điều kiện này cần được thiết kế lại theo hướng linh hoạt hơn đối với gia vị khô. Bên cạnh đó, hiệp hội đề xuất chuyển mạnh sang phương thức quản lý rủi ro, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm; cắt giảm hồ sơ hành chính mang tính hình thức; tập trung vào kết quả kiểm nghiệm, lịch sử tuân thủ và khả năng truy xuất nguồn gốc; phân loại doanh nghiệp theo mức độ rủi ro. Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế và chủ trương cải thiện môi trường kinh doanh. Trong bối cảnh xuất khẩu khởi sắc ngay từ đầu năm, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp sẽ là yếu tố quan trọng để ngành hồ tiêu và gia vị Việt Nam duy trì đà tăng trưởng, phát triển ổn định và hội nhập hiệu quả.
Xem thêm

Phòng vệ thương mại: Giữ thế chủ động cho doanh nghiệp xuất khẩu

Trước sự gia tăng điều tra phòng vệ thương mại từ nước ngoài, với sự hỗ trợ của bộ ngành, đặc biệt là Bộ Công Thương, doanh nghiệp đã chủ động hơn trong xử lý, ứng phó. Bảo đảm môi trường thương mại công bằng Năm 2025, xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gia tăng toàn cầu, sự gia tăng đáng kể về số lượng vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cùng với độ phức tạp chưa từng có tiền lệ, phạm vi điều tra ngày càng đa dạng. Doanh nghiệp xuất khẩu chủ động ứng phó hiệu quả trước các vụ điều tra phòng vệ thương mại. Ảnh minh họa Trong bối cảnh đó, theo báo cáo về công tác phòng vệ thương mại năm 2025 của Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) lĩnh vực này đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, nổi bật với nhiều dấu ấn. Cụ thể, công tác tham mưu, xây dựng, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng vệ thương mại được đẩy mạnh. Trong đó, Cục Phòng vệ thương mại đã hoàn thiện, báo cáo Lãnh đạo Bộ Công Thương trình Chính phủ phê duyệt, ban hành Nghị định 86/2025/NĐ-CP nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, linh hoạt và có hiệu lực đủ mạnh trong công tác điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Đồng thời, nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và các bên liên quan, Cục Phòng vệ thương mại đã rà soát và báo cáo Lãnh đạo Bộ thực hiện cắt giảm 1 thủ tục hành chính và tiếp tục triển khai 2 thủ tục hành chính cấp độ 4. Đồng thời, tiếp tục triển khai có hiệu quả Hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến trong các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại (Trav Online). Đặc biệt, trước bối cảnh nhiều hàng hóa nhập khẩu có dấu hiệu bán phá giá hoặc được trợ cấp gây thiệt hại nghiêm trọng cho một số ngành sản xuất trong nước, công tác khởi kiện, điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tiếp tục được tăng cường, đẩy mạnh tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ lợi ích hợp pháp các ngành sản xuất trong nước. Năm 2025, Cục Phòng vệ thương mại tiếp tục điều tra, rà soát 9 vụ việc đã khởi xướng trong năm 2024; khởi xướng điều tra 2 vụ việc mới và 1 vụ việc chống lẩn tránh, khởi xướng rà soát 4 vụ việc rà soát cuối kỳ; khởi xướng 2 rà soát hàng năm, tiếp nhận và xử lý 8 hồ sơ đề nghị điều tra và rà soát mới. Trong số 58 vụ việc điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, đã có 34 biện pháp phòng vệ thương mại có hiệu lực. Theo Cục Phòng vệ thương mại, các biện pháp này đã góp phần bảo đảm môi trường thương mại công bằng nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực của hàng nhập khẩu đến sản xuất trong nước và việc làm của hàng triệu lao động, bảo đảm an ninh kinh tế và an sinh xã hội tại các tỉnh thành trên cả nước. Đặc biệt, khoản thuế chống bán giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ và thuế chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thu nộp ngân sách hàng năm rất lớn với hơn 1.600 tỷ đồng. Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp Ở chiều ngược lại, do năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế nước ta ngày càng lớn, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với các vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài. Đến nay đã có 298 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 25 thị trường và vùng lãnh thổ điều tra đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với 21 vụ việc phòng vệ thương mại nước ngoài mới khởi xướng phát sinh từ 11 thị trường. Trước các nguy cơ về điều tra phòng vệ thương mại, nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc đã được cơ quan quản lý tăng cường triển khai. Trong đó, công tác cảnh báo sớm các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra; cung cấp thông tin cho doanh nghiệp về quy trình điều tra, kịch bản ứng phó; phối hợp với các hiệp hội và doanh nghiệp liên quan trong việc trao đổi với các cơ quan điều tra nước ngoài nhằm bảo vệ, hỗ trợ ngành xuất khẩu Việt Nam được đối xử công bằng theo đúng các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp xuất khẩu của ta. Nhờ đó, Cục Phòng vệ thương mại đánh giá, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về phòng vệ thương mại đang dần được nâng cao. Một số ngành, một số doanh nghiệp đã chủ động trong việc xử lý, ứng phó với các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài. Đặc biệt, một số vụ việc đã thành công nhất định như: Canada kết luận sơ-mi-rơ-moóc nhập khẩu từ Việt Nam không lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại; một doanh nghiệp lớn của Việt Nam được hưởng thuế 0% trong vụ việc EU điều tra chống bán phá giá thép cán nóng nhập khẩu từ Việt Nam. Mới đây nhất là Hoa Kỳ đã giảm thuế chống bán phá giá rà soát sơ bộ đối với mật ong từ 100,72% - 156,96% xuống còn 6,72% - 21,55%. Hiện nay, Cục Phòng vệ thương mại theo dõi biến động xuất khẩu của hơn 422 mặt hàng xuất khẩu sang 10 thị trường thường xuyên tiến hành điều tra phòng vệ thương mại. Trên cơ sở đó, thực hiện đánh giá có 27 nhóm mặt hàng nằm trong danh sách có nguy cơ bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hoặc điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp. Từ đó giúp các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp không bị động trong công tác ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài. Về giải quyết tranh chấp, tham mưu đàm phán, thực thi các FTA và tham gia trong khuôn khổ WTO, Cục Phòng vệ thương mại đã là nguyên đơn khởi kiện 5 vụ việc giải quyết tranh chấp về các biện pháp phòng vệ thương mại tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong đó có 4 vụ việc ta kiện Hoa Kỳ và 1 vụ việc ta kiện Indonesia. Trong các vụ việc, Cục Phòng vệ thương mại vừa tuân thủ tất cả các giai đoạn theo quy định của WTO, đồng thời cân nhắc thảo luận giải pháp song phương với các nước bị kiện. Nhờ vậy, cho đến nay, cả 5/5 vụ việc đều được giải quyết tại WTO và hầu hết theo hướng có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2026, thực hiện chủ trương chủ động sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất trong nước phù hợp với cam kết quốc tế, theo Cục Phòng vệ thương mại, công tác phòng vệ thương mại sẽ cần tập trung vào một số định hướng lớn. Trong đó, sẽ tiếp tục nghiên cứu, báo cáo các thay đổi quy định pháp luật về phòng vệ thương mại của các nước, đặc biệt là các quy định có khả năng tác động nhiều tới Việt Nam để cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu, thể chế hóa cơ chế hợp tác về phòng vệ thương mại với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; trao đổi với các đối tác thương mại quan trọng những nội dung hợp tác cụ thể để xử lý vấn đề trốn thuế, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Xem thêm

Giá tiêu hôm nay 5/2/2026: Tiêu nội địa neo cao

Giá tiêu hôm nay 5/2: Thị trường thế giới ghi nhận tăng nhẹ của giá tiêu Indonesia. Trong khi giá tiêu nội địa tiếp tục duy trì bình ổn. Giá tiêu thế giới hôm nay 5/2/2026: Giữ đà ổn định Cập nhật giá tiêu thế giới từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) sáng 5/2/2026, hồ tiêu xuất khẩu hôm nay ghi nhận biến động mới từ thị trường Indonesia. Các thị trường khác đều duy trì mức giá ổn định so với phiên giao dịch hôm qua. Cụ thể, giá tiêu đen Lampung của Indonesia được niêm yết ở mức 6.740 USD/tấn, tăng nhẹ 8 USD/tấn so ngày hôm qua. Tương tự, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng tăng nhẹ 12 USD/tấn so với ngày hôm qua, hiện đạt mức 9.275 USD/tấn. Giá tiêu Brazil không biến động so với phiên giao dịch ngày hôm qua. Hiện giá tiêu Brazil giao dịch ở mức 6.100 USD/tấn. Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA hiện đang ổn định ở mức 9.000 USD/tấn. Giá tiêu trắng ASTA tại thị trường này trong ngày hôm nay đạt 12.200 USD/tấn, không biến động so với ngày hôm qua. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam hôm nay không thay đổi, neo cao ở mức 9.350 USD/tấn. Giá tiêu đen của Việt Nam loại 500 gr/l đi ngang so với hôm qua, đạt mức 6.600 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 550 gr/l đạt 6.800 USD/tấn. Giá tiêu trong nước hôm nay 5/2: Neo cao Trong khi đó, giá tiêu thị trường trong nước hôm nay (5/2) cũng không ghi nhận biến động mới. Hiện hồ tiêu trong nước giao dịch quanh ngưỡng 149.000 - 152.000 đồng/kg.  Cụ thể, tại Gia Lai, giá tiêu hôm nay giao dịch ở mức 149.000 đồng/kg, không thay đổi so với ngày hôm qua. Đây là địa phương có mức giá tiêu thấp nhất trên cả nước hôm nay. Thương lái tại TP. Hồ Chí Minh hôm nay thu mua hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg, không biến động so với ngày hôm trước.  Hồ tiêu Đắk Lắk sáng nay giao dịch ở mốc 152.000 đồng/kg, không thay đổi so với ngày hôm qua. Đắk Lắk là nơi có giá tiêu cao nhất trên cả nước hôm nay. Đồng Nai hôm nay giao dịch hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg, đi ngang so với ngày hôm qua.  Trong khi đó, giá tiêu sáng nay tại Lâm Đồng giao dịch ở mốc 151.000 đồng/kg, cũng không ghi nhận biến động mới.
Xem thêm

Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan tại cửa khẩu Tân Thanh

Sáng 2/2, Đoàn công tác của Bộ Công Thương đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Ngay sau chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long về tháo gỡ vướng mắc trong kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP, sáng 2/2, Đoàn công tác Bộ Công Thương do Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Tại khu vực cửa khẩu Tân Thanh, Đoàn đã có buổi làm việc với Sở Công Thương Lạng Sơn, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII và lực lượng kiểm dịch y tế cửa khẩu Tân Thanh để nắm bắt thực tế phát sinh trong quá trình kiểm tra, thông quan hàng hóa, nhất là nông sản dịp cận Tết. Sau khi nghe báo cáo về tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá tháng 01/2026 và triển khai thực hiện các quy định tại Nghị định số 46/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản cho biết, các ý kiến vướng mắc, khó khăn tại địa phương sẽ được tổng hợp, báo cáo Bộ Công Thương và phối hợp liên ngành để đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời, bảo đảm thông quan thông suốt, không để xảy ra ùn ứ hàng hóa. Cùng với kiểm tra thực địa, trước đó, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã ban hành Công văn số 135/XNK-TMQT ngày 01/2/2026 gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Đồng thời, đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp, cập nhật tình hình cửa khẩu và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm, chủ động điều tiết lượng hàng xuất nhập khẩu phù hợp năng lực thông quan, hạn chế rủi ro ách tắc. Dưới đây là một số hình ảnh phóng viên Báo Công Thương ghi nhận buổi làm việc và khảo sát thực địa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn): Đoàn công tác của Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn (ngoài cùng bên phải) đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh. Đoàn công tác khỏa sát tại khu vực bãi đỗ xe cửa khẩu Tân Thanh. Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, bước sang năm 2026, tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng mạnh. Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, chủ động triển khai nhiều biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá qua cửa khẩu. Quang cảnh buổi làm việc. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản phát biểu tại buổi làm việc. Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn Hoàng Khánh Duy  Đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu. Đại diện Hải quan Lạng Sơn. Đại diện Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn. Đại diện Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII Lạng Sơn.
Xem thêm

Bộ Công Thương đề xuất công nhận Ngày Logistics Việt Nam

Bộ Công Thương đề xuất Thủ tướng Chính phủ công nhận Ngày Logistics Việt Nam và Tuần lễ Logistics Việt Nam. Ngành dịch vụ nền tảng  Bộ Công Thương cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, chuỗi cung ứng toàn cầu chịu tác động mạnh từ cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, phân mảnh thương mại, cùng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, logistics ngày càng khẳng định vai trò là ngành dịch vụ nền tảng, có tính liên ngành, liên vùng và liên quốc gia. Bộ Công Thương đề xuất lấy ngày 6/5 là Ngày Logistics Việt Nam. Ảnh minh họa Đối với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở cao, logistics không chỉ là hoạt động hỗ trợ lưu thông hàng hóa mà đã trở thành một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn chặt với phát triển xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhận thức này đã được thể chế hóa trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050, ban hành theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhận thức xã hội về vai trò và vị thế của logistics vẫn chưa tương xứng. Logistics vẫn thường được nhìn nhận như một hoạt động kỹ thuật hoặc chi phí đầu vào, chưa được nhận diện đầy đủ là ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, hàm lượng tri thức lớn và khả năng lan tỏa mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Điều này đặt ra yêu cầu cần có những công cụ chính sách phù hợp để nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển logistics. Ngày 6/5 được đề xuất là Ngày Logistics Việt Nam Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận Ngày Logistics Việt Nam và Tuần lễ Logistics Việt Nam - công cụ chính sách “mềm” mang tính biểu trưng quốc gia, có khả năng dẫn dắt nhận thức, lan tỏa thông điệp phát triển. Đồng thời, tạo điểm hội tụ cho các hoạt động truyền thông, kết nối, xúc tiến và đối thoại chính sách trong lĩnh vực logistics. Bộ Công Thương đề xuất chọn ngày 6/5 hằng năm là Ngày Logistics Việt Nam. Ngày này gắn với Sắc lệnh số 61 ngày 6/5/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về tổ chức Bộ Quốc dân Kinh tế, trong đó có Nha Tiếp tế, cơ quan đảm nhiệm những chức năng cốt lõi của logistics hiện đại.  Việc lựa chọn ngày 6/5 làm Ngày Logistics Việt Nam gắn liền với truyền thống từ những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng, thể hiện tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc đảm bảo lưu thông hàng hóa để phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Do vậy, mang ý nghĩa lịch sử cao và phù hợp để làm ngày truyền thống của ngành logistics.  Tuần lễ có ngày 6/5 hằng năm được đề xuất là Tuần lễ Logistics Việt Nam, tổ chức linh hoạt tùy điều kiện thực tế từng năm. Theo Bộ Công Thương, việc công nhận Ngày Logistics Việt Nam và Tuần lễ Logistics Việt Nam sẽ tạo mốc thời gian chính thức để tập trung tuyên truyền chính sách pháp luật, nâng cao nhận thức xã hội, tôn vinh các tổ chức, doanh nghiệp và người lao động trong ngành; đồng thời thúc đẩy kết nối giữa doanh nghiệp logistics với các ngành sản xuất, thương mại, thương mại điện tử và thị trường quốc tế. Đây cũng là khuôn khổ tích hợp để tổ chức các hoạt động như diễn đàn đối thoại chính sách, hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm logistics, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại và đầu tư. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng và từng bước xây dựng hình ảnh Việt Nam là trung tâm logistics mới nổi trong khu vực. Ngày 19/1/2026, Bộ Công Thương đã có văn bản lấy ý kiến các bộ, ngành, tổ chức liên quan về dự thảo Tờ trình và dự thảo Quyết định, làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Xem thêm

Giá vàng hôm nay 04/02/2026: Đảo chiều tăng, vượt mốc 4.900 USD

Giá vàng trong nước hôm nay tiếp tục tăng. Nếu nhà đầu tư mua vàng từ đầu năm hiện vẫn lãi khoảng 18 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới hôm nay 04/02/2026 và biểu đồ biến động giá vàng thế giới 24h qua Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 4,917.42 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 3,46% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.424 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 156,6 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 20 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Nguồn tin từ Reuters cho biết, giá vàng thế giới và bạc tăng vọt, với vàng được dự báo ghi nhận mức tăng theo ngày mạnh nhất kể từ tháng 11/2008, khi nhà đầu tư ồ ạt mua vào sau cú lao dốc hai ngày mạnh nhất trong nhiều thập kỷ. Bạc bật tăng 9%, lên 86,60 USD/ounce trong phiên thứ Ba, sau khi ghi nhận mức giảm kỷ lục 27% chỉ trong một ngày vào thứ Sáu và tiếp tục mất thêm 6% trong phiên thứ Hai. “Thị trường đã rơi vào trạng thái bán quá mức sau thông tin Tổng thống Mỹ Donald Trump đề cử ông Kevin Warsh làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang tiếp theo. Những gì chúng ta thấy hôm nay là một nhịp phục hồi. Bên cạnh đó, những nhà đầu tư đã bán ra để chốt lời hiện coi mức giá này là hấp dẫn để quay lại mua vào”, ông Peter Fertig, chuyên gia phân tích tại Quantitative Commodity Research, nhận định. Dù giới đầu tư cho rằng ông Warsh có xu hướng ủng hộ cắt giảm lãi suất, họ cũng dự báo ông sẽ thắt chặt bảng cân đối kế toán của Fed - động thái thường hỗ trợ đồng USD. Trong khi đó, CME Group cũng đã nâng yêu cầu ký quỹ đối với các hợp đồng tương lai kim loại quý, qua đó tiếp tục tạo áp lực lên giá. Tuy vậy, các nhà phân tích cho rằng xu hướng tăng của vàng vẫn chưa kết thúc và giá có thể thiết lập những đỉnh cao mới trong năm nay. “Vàng hiện đã vượt qua ngưỡng thoái lui đầu tiên tại 4.858 USD, qua đó chuyển trọng tâm sang mốc 5.000 USD, tương ứng mức thoái lui 50% của đợt sụt giảm vừa qua. Với bạc, các ngưỡng tương ứng cao hơn, lần lượt là 90,58 USD và 96,52 USD”, ông Ole Hansen, Giám đốc chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank, cho biết. Cùng ngày, Cục Thống kê Lao động Mỹ thông báo báo cáo việc làm tháng 1 sẽ không được công bố vào thứ 6 tuần này do chính phủ liên bang Mỹ đang trong tình trạng đóng cửa một phần. Ở các kim loại khác, bạch kim giao ngay tăng 5,4%, lên 2.235 USD/ounce sau khi lập đỉnh lịch sử 2.918,80 USD vào ngày 26/1, trong khi palladium tăng 4,8%, lên 1.801,50 USD/ounce. Giá vàng trong nước hôm nay 04/02/2026 Tại thời điểm khảo sát lúc 4h30 ngày 04/02/2026, giá vàng miếng trong nước được các doanh nghiệp niêm yết như sau: Giá vàng miếng SJC tại các thương hiệu lớn như SJC, Tập đoàn DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải, Phú Quý cùng niêm yết ở mức 173,5-176,5 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giảm 10,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt phiên giao dịch hôm qua. Trong khi đó, giá vàng SJC tại hệ thống Mi Hồng niêm yết ở mức 174,5-176,5 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 10,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và bán ra, so với chốt phiên giao dịch hôm qua. Tính từ đỉnh lịch sử 191,3 triệu đồng/lượng ghi nhận được trong phiên 29/1, giá vàng miếng SJC có thời điểm giảm về mốc 166 triệu đồng, mất 25,3 triệu đồng chỉ trong ít ngày, tương đương mức giảm ròng hơn 13%. Tuy vậy, từ vùng đáy ngắn hạn này, giá vàng miếng đã bật tăng 7,5 triệu đồng. Dù vậy, vùng giá hiện tại của vàng miếng SJC vẫn thấp hơn đỉnh lịch sử gần 18 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng miếng ghi nhận mức tăng khoảng 21 triệu đồng/lượng, tương đương tăng ròng 14%. Nhà đầu tư mua vàng từ đầu năm hiện vẫn lãi khoảng 18 triệu đồng/lượng. Giá vàng hôm nay ngày 04/02/2026. Ảnh: P.C Về giá vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI niêm yết ở ngưỡng 172-175 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 9,2 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng nhẫn SJC loại 1-5 chỉ ở mức 171,5-174,5 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 9 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá nhẫn tròn trơn ở ngưỡng 173,5-176,5 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 9 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết giá nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo ở mức 173,5-176,5 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 9 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Tập đoàn Phú Quý và Mi Hồng hiện là hai doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn cao nhất thị trường, cùng bán ra ở 176,5 triệu/lượng, tương đương giá bán vàng miếng SJC. Giá vàng thương hiệu Bảo Tín Mạnh Hải được niêm yết sáng sớm ngày 04/02/2026.
Xem thêm

Nâng tầm thương hiệu Việt trong hành trình hội nhập toàn cầu

Thương hiệu đang trở thành trụ cột cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi quốc tế ngày càng cao buộc doanh nghiệp đổi mới mạnh mẽ, vươn lên. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, thương hiệu đã vượt lên vai trò nhận diện đơn thuần để trở thành một giá trị chiến lược quyết định sức cạnh tranh của hàng Việt. Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam vì thế được xem như “bệ phóng” quan trọng, giúp doanh nghiệp chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang phát triển dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng. Xoay quanh vai trò của thương hiệu quốc gia, rào cản doanh nghiệp đang đối diện và những chuẩn mực mới từ thị trường quốc tế, Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương). Ông Hoàng Minh Chiến - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương). Ảnh: Hoa Quỳnh Vai trò trụ cột của thương hiệu trong chiến lược hội nhập - Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, thương hiệu và Chương trình Thương hiệu quốc gia có ý nghĩa thế nào đối với nâng cao sức cạnh tranh, giá trị và vị thế của hàng Việt trên thị trường quốc tế? Ông Hoàng Minh Chiến: Từ góc độ quản lý nhà nước, có thể khẳng định thương hiệu đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại quốc gia và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Thương hiệu không chỉ là công cụ then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn là “tấm thẻ thông hành” giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn khắt khe của những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới. Giữa thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp và Thương hiệu quốc gia tồn tại mối liên hệ hữu cơ; khi thương hiệu quốc gia được nâng tầm, trở thành sự bảo chứng mạnh mẽ về chất lượng và uy tín, giúp doanh nghiệp tự tin vươn lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu và đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng xanh, bền vững. Năm 2025, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt 519,6 tỷ USD (tăng 2,5%), giữ vững vị trí thứ 32 thế giới. Nhiều thương hiệu doanh nghiệp đã vươn tầm toàn cầu như: Ngân hàng Vietcombank, BIDV, VietinBank lọt Top 500 thương hiệu ngân hàng thế giới; Vinamilk duy trì vị trí trong Top 50 toàn cầu; Viettel giữ vững ngôi vương tại Đông Nam Á. Trong tổng thể chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chương trình thương hiệu quốc gia đóng vai trò như một “bệ phóng” giúp hàng Việt chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Chương trình thiết lập bộ tiêu chí khắt khe dựa trên ba trụ cột “Chất lượng - đổi mới sáng tạo - năng lực tiên phong”, qua đó tạo nên sự bảo chứng uy tín của nhà nước đối với các sản phẩm đạt chuẩn, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp tái cấu trúc chiến lược, đầu tư vào công nghệ và nâng cấp mô hình sản xuất - kinh doanh. Hiệu ứng lan tỏa của chương trình đã được chứng minh khi nhiều thương hiệu Việt như Viettel, Vinamilk vươn lên nhóm thương hiệu có giá trị cao trên thế giới, khẳng định vị thế hàng Việt trên bản đồ thương mại quốc tế. Có thể nói, Thương hiệu quốc gia Việt Nam không chỉ là công cụ xúc tiến thương mại, mà là giải pháp chiến lược góp phần nâng tầm giá trị hàng Việt, củng cố năng lực cạnh tranh và thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. 190 doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2024. Ảnh: Moit Chuẩn mực quốc tế mới và yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp Việt - Trong quá trình đưa thương hiệu Việt vươn ra toàn cầu, theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt, cả về năng lực nội tại lẫn môi trường kinh doanh quốc tế? Ông Hoàng Minh Chiến: Đưa thương hiệu Việt vươn tầm quốc tế là một hành trình không hề đơn giản và doanh nghiệp đang phải đối mặt với hai nhóm rào cản lớn. Về năng lực nội tại, thách thức đầu tiên nằm ở tư duy làm thương hiệu. Không ít doanh nghiệp vẫn xem đây là chi phí phải cắt giảm khi gặp khó khăn, thay vì coi đó là khoản đầu tư dài hạn để nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh. Chính vì vậy, chúng ta vẫn nặng về tư duy bán được nhiều hàng, chú trọng năng suất, trong khi điều giữ chân khách hàng lâu dài lại chính là chất lượng và giá trị gia tăng. Một rào cản khác là tâm lý “gia công”. Dù nhiều sản phẩm Việt hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, doanh nghiệp vẫn chấp nhận xuất khẩu dưới dạng thô hoặc bao bì trắng, khiến thương hiệu nước ngoài hưởng lợi, còn hàng Việt lại thiếu dấu ấn tại các thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc chưa thực sự coi trọng sở hữu trí tuệ dẫn tới nhiều trường hợp doanh nghiệp bị chiếm đoạt thương hiệu ở nước ngoài, gây thiệt hại lớn về chi phí và kéo dài thời gian xử lý tranh chấp. Ở góc độ môi trường kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp Việt đang đứng trước sức ép tuân thủ “luật chơi xanh” và các tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Các thị trường lớn như Mỹ, EU hay Nhật Bản áp dụng loạt quy định mới, từ cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đến luật chống phá rừng, buộc doanh nghiệp phải xanh hóa toàn bộ chuỗi sản xuất nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó là hệ thống rào cản kỹ thuật phức tạp về an toàn thực phẩm, chứng chỉ chất lượng, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư lớn cho máy móc, quy trình và quản trị. Thêm vào đó, áp lực cạnh tranh ngày càng dữ dội khi các FTA mở cửa thị trường khiến doanh nghiệp Việt không chỉ đối đầu với doanh nghiệp bản địa mà còn phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia có thương hiệu và kinh nghiệm lâu năm. Những rào cản đó cho thấy để thương hiệu Việt vươn ra thế giới, doanh nghiệp cần một chiến lược đầu tư bài bản, nâng cao nội lực và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, thay vì chỉ dựa vào lợi thế chi phí hay sản lượng. - Từ kinh nghiệm làm việc với nhiều thị trường và đối tác quốc tế, ông nhìn nhận thế nào về yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và nhà nhập khẩu nước ngoài đối với thương hiệu Việt liên quan đến chất lượng, tính bền vững và trách nhiệm xã hội? Ông Hoàng Minh Chiến: Yêu cầu của người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu quốc tế đối với hàng hóa Việt Nam đang thay đổi rất nhanh và hướng tới chuẩn mực ngày càng cao. Trước hết, chất lượng đã trở thành điều kiện tiên quyết. Với những thị trường khó tính như Mỹ, EU hay Nhật Bản, sản phẩm không chỉ cần “tốt” mà phải đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt, từ ISO, Global G.A.P đến các chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Chất lượng hiện nay còn được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả sự ổn định trong sản xuất, dịch vụ hậu mãi và tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, tính bền vững đã trở thành “luật chơi mới” không thể né tránh. Các nhà nhập khẩu ngày nay đòi hỏi sản phẩm phải giảm phát thải, có dấu chân carbon thấp, tuân thủ cơ chế CBAM, quy định chống phá rừng và sử dụng vật liệu tái chế. Việc sản xuất xanh, sử dụng năng lượng tái tạo hay cắt giảm phát thải không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn nếu doanh nghiệp muốn duy trì chỗ đứng trong chuỗi cung ứng quốc tế. Đi liền với chất lượng và tính bền vững là yêu cầu về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh, yếu tố ngày càng được người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế coi trọng trong đánh giá một thương hiệu. Người tiêu dùng quốc tế hiện rất quan tâm doanh nghiệp đối xử với người lao động như thế nào, đóng góp gì cho cộng đồng và có minh bạch hay không trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây cũng là lý do khiến nhiều thương hiệu lớn của Việt Nam như Vinamilk hay TH True MILK được đánh giá cao tại thị trường quốc tế, bởi họ không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn kiên trì theo đuổi trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Có thể nói, thị trường quốc tế đặt ra “bài kiểm tra toàn diện” đối với doanh nghiệp Việt. Đầu tư vào xanh hóa, vào chất lượng chuẩn quốc tế và vào trách nhiệm xã hội không phải là gánh nặng chi phí, mà chính là tấm vé thông hành giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội từ các FTA thế hệ mới; khẳng định vị thế bền vững trên bản đồ kinh tế toàn cầu. - Xin cảm ơn ông! Thương hiệu đang trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hàng Việt trong hội nhập, buộc doanh nghiệp phải vượt qua hạn chế nội tại và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe. Chất lượng, bền vững và trách nhiệm xã hội không còn là lựa chọn, mà là điều kiện bắt buộc để thương hiệu Việt đứng vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Xem thêm

Quan hệ thương mại Mỹ - Đông Nam Á trước những ẩn số thuế quan

Bước sang năm 2026, chính sách thuế quan của Mỹ đối với Đông Nam Á tiếp tục là một ẩn số lớn trong bức tranh thương mại toàn cầu. Dù mức thuế danh nghĩa giữa các đối tác tương đối đồng đều, song sự chênh lệch giữa thuế suất công bố và thuế suất thực tế, cùng tiến trình đàm phán song phương và diễn biến trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung, đang chi phối đáng kể triển vọng thương mại của khu vực. Thuế quan danh nghĩa và thực tế Chính sách thuế quan của Mỹ đối với các đối tác thương mại chủ chốt ở Đông Nam Á nhìn chung ở mức độ đồng đều. Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan hiện chịu mức thuế “có đi có lại” 19%, trong khi Việt Nam ở mức 20%. Riêng Singapore chịu mức thuế cơ bản 10%, phản ánh thặng dư thương mại của Mỹ cũng như việc hai bên đã có hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, các mức thuế danh nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ nghĩa vụ thuế thực tế của doanh nghiệp. Khi tính đến các trường hợp miễn trừ, cơ cấu mặt hàng và các cuộc điều tra đang chờ kết luận, thuế suất thực tế mà các nhà nhập khẩu Mỹ phải nộp có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Đến tháng 9/2025, mức thuế suất thực tế trung bình của Việt Nam là 12,7%, còn Indonesia đạt 19,7%, cao nhất trong nhóm năm đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN tại thị trường Mỹ. Các mức tương ứng của Thái Lan, Malaysia và Singapore lần lượt là 10,1%, 8,7% và 2,6%. Sự chênh lệch này chủ yếu xuất phát từ các cơ chế miễn trừ thuế. Nhiều mặt hàng đang thuộc diện điều tra theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại Mỹ năm 1962, hiện vẫn được miễn thuế trong thời gian chờ kết luận. Bên cạnh đó, một số sản phẩm nông nghiệp không được sản xuất tại Mỹ, như cà phê và chuối, cũng nằm ngoài phạm vi áp thuế. Nhờ vậy, một tỷ lệ đáng kể hàng hóa từ Đông Nam Á vẫn tiếp cận thị trường Mỹ mà không chịu thuế quan. Số liệu tháng 9/2025 cho thấy, 75% hàng nhập khẩu từ Singapore được miễn thuế, trong khi tỷ lệ này của Indonesia chỉ là 11%, phản ánh sự khác biệt về cơ cấu xuất khẩu giữa các quốc gia. Tuy nhiên, chính các mặt hàng đang được miễn thuế do thuộc diện điều tra lại tiềm ẩn rủi ro lớn trong tương lai. Tại Thái Lan, 94% lượng hàng hiện được miễn thuế có khả năng phải chịu thuế bổ sung nếu các cuộc điều tra đi đến kết luận bất lợi. Tỷ lệ này tại Malaysia và Singapore lần lượt ở mức 72% và 71%. Tác động tài chính của thuế quan đã thể hiện rõ. Trong giai đoạn từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 9/2025, các nhà nhập khẩu Mỹ đã nộp gần 17 tỷ USD tiền thuế đối với hàng hóa từ năm quốc gia Đông Nam Á nói trên. Trước bối cảnh đó, Washington đã thúc đẩy các cuộc đàm phán song phương nhằm tìm kiếm sự ổn định hơn cho chính sách thương mại. Đến tháng 12/2025, Mỹ đã đạt thỏa thuận với Campuchia và Malaysia, bao gồm các cam kết về cắt giảm thuế quan, xử lý rào cản phi thuế quan, thúc đẩy cải cách pháp lý và hợp tác trong lĩnh vực kinh tế số, cùng với việc các đối tác tăng mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ. Các thỏa thuận này được giới doanh nghiệp Mỹ đánh giá tích cực, dù tại Malaysia vẫn tồn tại những lo ngại về tác động đối với dư địa chính sách trong dài hạn. Thương mại khu vực trước phép thử năm 2026 Các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Indonesia được cho là đã đạt tiến triển đáng kể vào cuối tháng 12/2025, với nhiều vấn đề then chốt được giải quyết. Công tác chuẩn bị đang được xúc tiến để Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto ký kết thỏa thuận với Tổng thống Mỹ Donald Trump vào cuối tháng 1/2026. Trong khi đó, đàm phán với Philippines vẫn tiếp tục nhưng diễn ra chậm hơn so với các nước láng giềng, theo thừa nhận của các quan chức Manila. Riêng Singapore không tham gia bất kỳ cuộc đàm phán song phương nào, do nước này đã có hiệp định thương mại tự do toàn diện với Mỹ. Xét về bản chất, nhiều nội dung trong các thỏa thuận song phương hiện nay phản ánh những mục tiêu đàm phán truyền thống của Mỹ. Các vấn đề như rào cản thuế quan và phi thuế quan, việc chấp nhận tiêu chuẩn sản phẩm của Mỹ, các yêu cầu cấp phép, quy định về tỷ lệ nội địa hóa hay các biện pháp bảo hộ khác đã từ lâu là trở ngại đối với hàng hóa và dịch vụ Mỹ tại các thị trường Đông Nam Á. Đáng chú ý là nhiều mục tiêu trong số này lẽ ra đã có thể đạt được thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định mà Mỹ rút lui vào năm 2017. Các cuộc đàm phán hiện tại có thể giúp hiện thực hóa một phần những mục tiêu đó, nhưng đi kèm chi phí đáng kể. Lần này, các nhà nhập khẩu Mỹ phải chấp nhận mức thuế 19 - 20% trong thời gian chờ đợi, coi đó như chi phí để đổi lấy những cải cách chính sách tại các quốc gia đối tác. Dù vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn hy vọng rằng các thỏa thuận này sẽ mở ra một giai đoạn ổn định và dễ dự đoán hơn trong dài hạn. Một số nguồn tin cho biết, các quan chức trong khu vực cũng thừa nhận rằng nhiều yêu cầu từ Washington thực chất là những cải cách mà các chính phủ Đông Nam Á đã trì hoãn trong thời gian dài. Theo cách nhìn này, áp lực từ bên ngoài đang coi như một đòn bẩy để thúc đẩy những thay đổi nội bộ vốn khó thực hiện nhưng được cho là cần thiết cho tăng trưởng dài hạn. Giới quan sát nhận định, vị thế của Đông Nam Á tại thị trường Mỹ không thể tách rời khỏi diễn biến trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung. Trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump, các phân tích của Phòng Thương mại Mỹ cho thấy, sau khi Washington áp thuế theo Điều 301 đối với hàng hóa Trung Quốc, các nước ASEAN được hưởng lợi thế thuế quan trung bình từ 12 - 19% so với Trung Quốc tại thị trường Mỹ. Đến tháng 12/2025, mức thuế suất hiệu quả trung bình áp lên hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ vẫn ở mức khoảng 30%. Điều này cho thấy các nước ASEAN tiếp tục duy trì được lợi thế thuế quan đáng kể. Tuy nhiên, khả năng khai thác lợi thế này phụ thuộc lớn vào tính bền vững của thỏa thuận “ngừng chiến” thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Nếu căng thẳng Mỹ - Trung leo thang trở lại và Mỹ tăng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc, Đông Nam Á nhiều khả năng sẽ được hưởng lợi khi các chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển. Ngược lại, nếu trạng thái hòa hoãn hiện tại được duy trì và thuế quan với Trung Quốc tiếp tục giảm, lợi thế thuế quan của Đông Nam Á sẽ bị thu hẹp đáng kể, kéo theo tác động tiêu cực đến xuất khẩu sang Mỹ. Một yếu tố khác góp phần làm gia tăng bất ổn là các phán quyết sắp tới của Tòa án Tối cao Mỹ liên quan đến Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế. Nếu tòa án phán quyết chống lại việc áp thuế theo đạo luật này, môi trường thương mại có thể trở nên bất ổn hơn nữa, bởi chính quyền Mỹ có thể chuyển sang sử dụng Mục 232 hoặc các thẩm quyền pháp lý khác để tái áp đặt nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các mức thuế hiện hành. Ngược lại, nếu tòa án giữ nguyên các mức thuế, quyền lực của Nhà Trắng trong việc áp đặt thuế quan đơn phương sẽ được củng cố đáng kể. Trong cả hai kịch bản, phán quyết của Tòa án Tối cao khó có thể mang lại sự ổn định mà giới doanh nghiệp mong đợi. Thay vào đó, các doanh nghiệp hoạt động tại thị trường Mỹ - Đông Nam Á nhiều khả năng sẽ phải tiếp tục thích ứng với một môi trường thương mại biến động, khó dự báo trong suốt năm 2026. Khi năm mới bắt đầu, chính sách thuế quan của Mỹ đối với Đông Nam Á vẫn là một trong những điểm nóng then chốt trong bức tranh thương mại toàn cầu, phản ánh sự đan xen phức tạp giữa chính sách đối nội của Mỹ, các mục tiêu địa chính trị và diễn biến trong quan hệ với Trung Quốc. Đối với doanh nghiệp, việc chuẩn bị cho kịch bản biến động kéo dài dường như vẫn là lựa chọn thực tế nhất.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Trung Quốc ‘tăng chi’ cho phân khúc cao cấp, xuất khẩu tôm Việt hưởng lợi

Xu hướng nhập khẩu tôm của Trung Quốc đang dịch chuyển từ số lượng sang chất lượng, mở ra cơ hội bứt phá cho xuất khẩu tôm Việt Nam, đặc biệt ở phân khúc giá trị cao. Nhập khẩu tôm của Trung Quốc tăng giá trị Theo thống kê, năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu tổng cộng 901.563 tấn tôm, giá trị đạt 4,79 tỷ USD, tăng 5% so với năm trước. Mức chênh lệch giữa tăng trưởng giá trị và khối lượng cho thấy giá nhập khẩu bình quân đã tăng. Diễn biến theo tháng cũng thể hiện tính mùa vụ khá rõ. Lượng nhập khẩu tăng dần từ quý II, đạt đỉnh trong giai đoạn tháng 6-8, sau đó hạ nhiệt vào cuối năm. Tháng 12 chỉ đạt 82.409 tấn, giảm 9% so với cùng kỳ, góp phần kéo tổng khối lượng cả năm giảm nhẹ trong khi giá trị nhập khẩu vẫn duy trì đà tăng. Trung Quốc đẩy mạnh nhập khẩu tôm hùm và các mặt hàng tôm cao cấp. Nguồn cung tôm cho Trung Quốc tiếp tục tập trung vào một số quốc gia chủ chốt, trong đó Ecuador giữ vai trò chi phối. Năm 2025, Trung Quốc nhập từ Ecuador 651.866 tấn, giảm 3% so với năm trước nhưng vẫn chiếm hơn 70% tổng lượng nhập khẩu. Năm 2025, Ấn Độ nổi lên là nguồn tăng trưởng chính với 149.599 tấn, tăng 6%. Thái Lan đạt 27.739 tấn, tăng 19%, Argentina đạt 19.170 tấn, tăng 10%, còn Indonesia đạt 13.137 tấn, tăng mạnh 28%. Việc nhiều quốc gia gia tăng hiện diện cho thấy Trung Quốc đang chủ động đa dạng hóa nguồn cung thay vì phụ thuộc tuyệt đối vào Ecuador. Đây là khoảng trống đáng chú ý cho các nhà xuất khẩu có sản phẩm khác biệt, đặc biệt ở phân khúc chế biến và cao cấp. Trung Quốc ưu tiên chất lượng và sản phẩm cao cấp Cùng với sự cải thiện thu nhập và sự phát triển mạnh của kênh bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử và chuỗi nhà hàng, người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và trải nghiệm ẩm thực. Nhu cầu không còn tập trung hoàn toàn vào tôm đông lạnh nguyên liệu giá rẻ mà chuyển sang các dòng tôm cao cấp, tôm sống, tôm cỡ lớn và sản phẩm chế biến sâu. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, chính sự dịch chuyển này đã tạo lực đẩy quan trọng cho các dòng tôm giá trị cao của Việt Nam, đặc biệt là tôm hùm và tôm sú, những sản phẩm phù hợp với phân khúc nhà hàng, khách sạn và dịch vụ ăn uống. Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, năm 2025, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc đạt 1,2 tỷ USD, tăng 61% so với năm 2024. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2025 cũng đáng chú ý. Xuất khẩu tôm chân trắng và tôm sú tăng lần lượt 6% và 5%. Trong khi, nhóm tôm loại khác (chủ yếu là tôm sống/tươi/đông lạnh) tăng hơn gấp đôi và chiếm trên 65% tổng kim ngạch. Đáng chú ý, tôm hùm nổi lên là mặt hàng dẫn dắt. Kim ngạch xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc chiếm gần như toàn bộ xuất khẩu tôm hùm của Việt Nam ra thế giới. Bên cạnh đó, tôm sú tiếp tục giữ lợi thế rõ rệt trong phân khúc cao cấp, phục vụ các kênh nhà hàng và tiêu dùng chất lượng cao. Tôm Việt có cơ hội lớn mở rộng thị trường VASEP cho rằng, Ecuador và Ấn Độ vẫn thống trị ở phân khúc tôm giá rẻ, nơi lợi thế quy mô và chi phí sản xuất giúp họ bán với mức giá cạnh tranh. Nếu tham gia cuộc đua giá thấp, doanh nghiệp Việt Nam khó có thể thắng thế. Ngược lại, lợi thế của Việt Nam nằm ở khả năng chế biến, sự linh hoạt sản phẩm và các dòng tôm cao cấp. Khi thị trường Trung Quốc đang dịch chuyển sang tiêu dùng chất lượng cao hơn, đây chính là phân khúc phù hợp để tôm Việt Nam củng cố vị thế. Diễn biến nhập khẩu tôm của Trung Quốc năm 2025 cho thấy, thị trường sẽ tiếp tục nhập khẩu lớn, nhưng theo hướng chọn lọc hơn. Khối lượng có thể không tăng mạnh, song giá trị và tiêu chuẩn sản phẩm sẽ ngày càng cao. Những nhà cung ứng đáp ứng tốt yêu cầu chất lượng, truy xuất và chế biến sâu sẽ có lợi thế rõ rệt. “Với đà tăng trưởng hiện nay và lợi thế về địa lý, logistics cũng như kinh nghiệm chế biến, tôm Việt Nam có cơ hội để mở rộng thị phần. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần tiếp tục nâng giá trị gia tăng, đẩy mạnh sản phẩm cao cấp và xây dựng quan hệ trực tiếp với hệ thống phân phối tại Trung Quốc”, VASEP nhận định. Năm 2025 khép lại với một cột mốc đáng ghi nhận của ngành tôm Việt Nam. Theo số liệu Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2025 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2024, mức cao nhất từ trước tới nay.
Xem thêm

EU ‘siết’ đông lạnh cá ngừ tiêu thụ trực tiếp: Doanh nghiệp Việt cần lưu ý gì?

EU áp dụng chuẩn đông lạnh – 18°C với cá ngừ cho tiêu thụ trực tiếp từ năm 2026, buộc doanh nghiệp Việt Nam sớm rà soát quy trình và phân loại sản phẩm để tránh rủi ro. Xuất khẩu cá ngừ sang Canada duy trì đà tăng trưởng Cá ngừ Việt Nam có thể tăng thị phần tại Hà Lan nhờ EVFTA và sản xuất xanh Tận dụng Hiệp định CEPA: Cá ngừ rộng cửa vào Trung Đông qua UAE EU sẽ áp dụng chuẩn đông lạnh - 18°C Liên minh châu Âu (EU) vừa ban hành Quy định ủy quyền Delegated Regulation (EU) 2025/1449 sửa đổi Phụ lục III của Quy định (EC) số 853/2004, theo hướng siết chặt điều kiện đông lạnh đối với cá ngừ dùng cho tiêu thụ trực tiếp. Quy định mới được đánh giá sẽ tác động đáng kể tới hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu cá ngừ vào thị trường EU, trong đó có Việt Nam. Theo quy định mới, cá ngừ dùng cho tiêu thụ trực tiếp cho con người như sashimi, steak, loin… bắt buộc phải được đông lạnh đạt nhiệt độ lõi -18°C hoặc thấp hơn, kể cả trong trường hợp đông lạnh bằng nước muối (brine freezing) trên tàu. Chỉ những tàu khai thác được trang bị hệ thống đông lạnh bằng nước muối đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đáp ứng đầy đủ năng lực kỹ thuật mới được phép đưa sản phẩm cá ngừ loại này vào thị trường EU. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam đạt trên 0,9 tỷ USD. Bên cạnh đó, toàn bộ quá trình kiểm soát nhiệt độ đông lạnh phải được giám sát, ghi nhận và lưu trữ dữ liệu, phục vụ công tác kiểm tra chính thức của cơ quan quản lý EU. Đây được xem là bước nâng cấp đáng kể về yêu cầu truy xuất, minh bạch và tuân thủ kỹ thuật trong chuỗi cung ứng cá ngừ. Quy định ủy quyền (EU) 2025/1449 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 27/1/2026. Kể từ thời điểm này, các lô cá ngừ không đáp ứng yêu cầu đông lạnh ở mức - 18°C sẽ không được phép nhập khẩu vào EU dưới dạng sản phẩm dùng cho tiêu thụ trực tiếp cho con người. Điều này đồng nghĩa, doanh nghiệp và đội tàu khai thác muốn duy trì thị trường EU buộc phải rà soát lại toàn bộ quy trình kỹ thuật, từ đầu tư trang thiết bị đông lạnh đến hệ thống giám sát nhiệt độ và hồ sơ tuân thủ. Theo các báo cáo kiểm tra chính thức của EU, trong thời gian qua đã phát hiện một số tàu đông lạnh cá ngừ bằng nước muối ở mức khoảng - 9°C, sau đó đưa sản phẩm ra thị trường dưới dạng cá ngừ tươi hoặc cá ngừ chưa qua chế biến. EU đánh giá đây là hành vi gian lận thương mại, đồng thời tiềm ẩn rủi ro lớn về an toàn thực phẩm. Đặc biệt, việc không đạt ngưỡng đông lạnh an toàn có thể làm gia tăng nguy cơ tích tụ histamine, dẫn đến ngộ độc scombroid. Trên cơ sở đó, EU quyết định chuẩn hóa ngưỡng -18°C như một tiêu chuẩn bắt buộc, nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, tăng cường minh bạch thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Quy định mới cho thấy, xu hướng EU tiếp tục nâng cao “hàng rào kỹ thuật” đối với thủy sản nhập khẩu, đòi hỏi các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam, phải chủ động thích ứng nếu không muốn đánh mất lợi thế tại thị trường này. Lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ Việt Nam Doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam cần đặc biệt lưu ý, quy định mới của EU không áp dụng cho toàn bộ sản phẩm cá ngừ, mà chỉ tập trung vào nhóm cá ngừ dùng cho tiêu thụ trực tiếp cho con người. Tuy nhiên, với nhóm sản phẩm này, yêu cầu kỹ thuật được siết chặt đáng kể và rủi ro tuân thủ là rất rõ ràng. Theo đó, các lô cá ngừ chỉ được đông lạnh ở mức nhiệt cao hơn -18°C có nguy cơ: không được thông quan vào EU; hoặc; bị buộc chuyển mục đích sử dụng, chẳng hạn chuyển sang làm nguyên liệu chế biến sâu, tùy theo đánh giá của cơ quan thẩm quyền EU. Để tránh gián đoạn xuất khẩu từ năm 2026, doanh nghiệp cần chủ động rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt là nguồn nguyên liệu và phương thức đông lạnh trên tàu; đồng thời làm việc chặt chẽ với đối tác khai thác, đội tàu để bảo đảm thiết bị và quy trình đông lạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật mới. Theo cách hiểu và thực tiễn quản lý của EU, nhóm cá ngừ dùng cho tiêu thụ trực tiếp thường bao gồm: Cá ngừ tươi hoặc đông lạnh dùng làm sashimi, sushi, steak cá ngừ; Cá ngừ loin/fillet đông lạnh; cá ngừ đông lạnh được rã đông và bán dưới dạng “fresh” tại thị trường EU; cá ngừ đông lạnh chỉ qua sơ chế như cắt, làm sạch, phân cỡ, đóng gói lại. Đối với toàn bộ các sản phẩm này, yêu cầu đông lạnh đạt nhiệt độ lõi –18°C hoặc thấp hơn là bắt buộc, kể cả trong trường hợp áp dụng phương pháp đông lạnh bằng nước muối (brine freezing). Ngược lại, quy định mới không áp dụng đối với cá ngừ được nhập khẩu vào EU phục vụ chế biến công nghiệp, bao gồm: cá ngừ làm nguyên liệu cho sản phẩm đóng hộp; cá ngừ hấp, chín, tiệt trùng; cá ngừ nấu chín, hun khói hoặc xử lý nhiệt sâu; cá ngừ nhập khẩu với mục đích chế biến tiếp trước khi đưa ra thị trường tiêu dùng. Với các trường hợp này, yêu cầu đông lạnh không bị siết theo chuẩn “tiêu thụ trực tiếp”, song vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định an toàn thực phẩm chung của EU. EU nhấn mạnh, sự phân định này nhằm kiểm soát rủi ro một cách có trọng tâm. Theo đánh giá của cơ quan chức năng EU, cá ngừ dùng cho tiêu thụ trực tiếp: có nguy cơ tích tụ histamine cao hơn nếu quy trình bảo quản, đông lạnh không đủ sâu; Dễ bị lợi dụng để gian lận thương mại, như trường hợp đông lạnh ở -9°C nhưng bán ra thị trường như cá tươi. Trong khi đó, cá ngừ dùng cho chế biến nhiệt hoặc tiệt trùng sẽ trải qua các công đoạn xử lý giúp giảm đáng kể rủi ro an toàn thực phẩm, do đó mức độ kiểm soát về nhiệt độ đông lạnh không bị đặt nặng tương tự. Để giảm thiểu rủi ro khi xuất khẩu sang EU, doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam được khuyến nghị: phân loại rõ ngay từ đầu các lô hàng dùng cho tiêu thụ trực tiếp và các lô hàng dùng cho chế biến công nghiệp; thể hiện nhất quán mục đích sử dụng trên hồ sơ kỹ thuật, hợp đồng thương mại và chứng từ xuất khẩu; chủ động làm việc với đối tác EU để thống nhất mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp tránh nguy cơ bị từ chối thông quan hoặc buộc chuyển mục đích sử dụng, mà còn là bước chuẩn bị cần thiết để thích ứng với xu hướng quản lý ngày càng chặt chẽ của EU đối với thủy sản nhập khẩu. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam đạt trên 0,9 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế mặt hàng chủ lực, nằm trong nhóm dẫn đầu các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của cả nước.
Xem thêm

Khẩn trương gỡ khó cho xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2026 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm gần 10% Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) thông tin, thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2026 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm này tập trung rõ ở nhóm cá ngừ. Đối với tôm xuất khẩu sang Hoa Kỳ, nhiều doanh nghiệp đã chủ động giao hàng sớm trong tháng 1 nhằm giảm rủi ro trước thời điểm công bố kết quả thuế chống bán phá giá (CBPG) vào ngày 17/2. Nhờ đó, kim ngạch tôm sang quốc gia này chưa giảm sâu trong tháng đầu năm, nhưng điều này đồng nghĩa với việc áp lực sẽ dồn sang các tháng tiếp theo. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đánh giá, dù tháng 1 ghi nhận mức tăng trưởng khá tích cực, xuất khẩu thủy sản trong tháng 2/2026 được dự báo sẽ giảm so với tháng 1 và giảm nhẹ so với cùng kỳ do một số yếu tố: Kỳ nghỉ tết Nguyên đán làm gián đoạn sản xuất và giao hàng; tác động rõ hơn từ kết quả thuế CBPG tôm tại Hoa Kỳ sau ngày 17/2; những vướng mắc trong thực thi quy định tại Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) và cấp Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA) tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu cá ngừ và các loài hải sản khác; nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc giảm sau khi đã tích trữ mạnh trong tháng 1. Vì sao thị trường Hoa Kỳ gặp khó? Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, kể từ ngày 1/1/2026 đến nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hải sản khai thác sang thị trường Hoa Kỳ đang gặp không ít khó khăn trong khâu thủ tục. Thực tế ghi nhận cho thấy, một số lô hàng cập cảng quốc gia này nhưng phải nằm chờ, chưa thể thông quan do chưa có COA. Ở trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng tạm thời chưa dám xuất hàng, bởi dù đã nộp hồ sơ từ đầu năm, đến nay việc cấp hoặc phê duyệt COA vẫn còn hạn chế, khiến kế hoạch xuất khẩu bị gián đoạn. Xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2026 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ VASEP ghi nhận phản ánh của doanh nghiệp và tổng hợp từ thực tiễn triển khai, những khó khăn nêu trên chủ yếu phát sinh trong giai đoạn đầu áp dụng thủ tục cấp Giấy COA theo Thông tư 74/2025/TT-BNNMT. Đây là một quy định mới, có phạm vi điều chỉnh rộng và yêu cầu kỹ thuật cao, trong khi hệ thống hướng dẫn chi tiết và cách hiểu thống nhất giữa các khâu thực hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Thực tế cho thấy, ở một số địa phương, việc tiếp nhận và thẩm định hồ sơ COA còn có sự khác nhau trong cách áp dụng quy định, đặc biệt đối với các trường thông tin kỹ thuật, chứng từ nước ngoài và các tình huống phát sinh trong chuỗi cung ứng thực tế. Điều này khiến cùng một loại hồ sơ, nhưng cách xử lý và yêu cầu bổ sung có thể chưa đồng nhất, làm kéo dài thời gian hoàn tất thủ tục. Bên cạnh đó, do COA là loại giấy tờ mới gắn với yêu cầu quản lý chặt chẽ nguồn gốc khai thác phục vụ thị trường Hoa Kỳ, cả doanh nghiệp và cơ quan thực thi đều cần thêm thời gian để làm quen, rà soát và điều chỉnh quy trình nội bộ cho phù hợp. Trong bối cảnh chưa có hướng dẫn thống nhất ở cấp trung ương cho một số nội dung cụ thể, việc thận trọng trong xử lý hồ sơ là điều dễ hiểu, song cũng vô tình tạo ra áp lực nhất định cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong ngắn hạn. Từ thực tiễn đó, VASEP đã tổng hợp các nhóm vướng mắc tiêu biểu phát sinh trong quá trình làm thủ tục COA, tập trung vào những nội dung có tác động trực tiếp đến tiến độ thông quan và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ chế triển khai theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của sản xuất và xuất khẩu. VASEP cho biết, một trong những nội dung được phản ánh nhiều là yêu cầu dịch thuật công chứng đối với các chứng từ tiếng nước ngoài, kể cả tiếng Anh như: hóa đơn thương mại, giấy chứng nhận nguồn gốc khai thác (Catch Certificate), giấy chứng nhận của thuyền trưởng (Captain’s Statement)… VASEP cho rằng, việc dịch công chứng toàn bộ bộ hồ sơ (thường dày và nhiều biểu mẫu chuyên ngành) làm tăng đáng kể thời gian và chi phí, trong khi tiếng Anh vốn là ngôn ngữ phổ biến trong thương mại quốc tế. VASEP kiến nghị cơ quan quản lý xem xét hướng dẫn theo hướng: chấp nhận chứng từ tiếng Anh trong hồ sơ COA mà không bắt buộc dịch, còn với ngôn ngữ khác tiếng Anh thì doanh nghiệp được tự dịch, ký đóng dấu và chịu trách nhiệm, thay vì bắt buộc công chứng. Báo cáo cũng nêu tình huống một số Captain’s Statement/Catch Certificate theo mẫu thông dụng quốc tế (trong đó có mẫu theo NOAA - Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ) có thể không thể hiện đầy đủ các trường thông tin như yêu cầu trong Thông tư 74/2025/TT-BNNMT, đặc biệt là thông tin ngư cụ khai thác. Với đặc thù chứng từ do thuyền trưởng nước ngoài cấp, doanh nghiệp Việt Nam khó có khả năng yêu cầu bổ sung hoặc phát hành lại, nhất là khi nguyên liệu đã nhập khẩu và đưa vào chế biến. VASEP đề xuất hướng xử lý hài hòa: chấp nhận mẫu Captain’s Statement hiện hành, đồng thời cho phép cơ quan thẩm định đối chiếu thông tin còn thiếu (như ngư cụ) từ các giấy tờ khác trong bộ hồ sơ (giấy phép khai thác, Catch Certificate…), thay vì yêu cầu “tất cả phải nằm trên một giấy”. Một điểm kỹ thuật nhưng tác động lớn là mã nghề khai thác: doanh nghiệp khi làm COA phục vụ xuất khẩu sang Hoa Kỳ phải khai theo phân loại mã nghề/fishery ID của phía NMFS/NOAA, nhưng tại một số địa phương lại đối chiếu theo danh mục mã nghề trong quy định trong nước, dẫn đến hồ sơ bị “vênh” và không được tiếp nhận. VASEP kiến nghị có văn bản hướng dẫn thống nhất: cho phép dùng mã nghề theo NMFS/NOAA khi khai báo COA đi Hoa Kỳ, đồng thời xây dựng nguyên tắc đối chiếu giữa hai hệ mã để cơ quan và doanh nghiệp cùng áp dụng đồng nhất. Bên cạnh đó, Hiệp hội đề nghị làm rõ cách thẩm định trong các tình huống thực tế như một chuyến biển khai thác đa loài (trong đó có loài đủ điều kiện COA) hoặc giấy phép khai thác ghi nghề chính và nghề phụ. Theo VASEP, nếu có hướng dẫn rõ theo hướng căn cứ vào loài xin COA và nghề thực tế sử dụng để khai thác sản lượng, việc thẩm định sẽ thuận lợi hơn và hạn chế cách hiểu khác nhau. Riêng trường hợp mặt hàng ghẹ xanh được khai thác ven bờ, thực tế nguyên liệu chủ yếu đến từ tàu nhỏ dưới 12m, chuyến biển ngắn, hoạt động gần bờ; trong khi số lượng cảng cá ít và xa khu dân cư khiến việc ra/vào cảng không thuận lợi, dẫn tới doanh nghiệp khó thu thập “Giấy bốc dỡ hàng hóa qua cảng” theo yêu cầu hồ sơ COA. Vì vậy VASEP kiến nghị, cơ quan quản lý cân nhắc cơ chế đặc thù cho chuỗi ghẹ ven bờ, đồng thời tiếp tục trao đổi kỹ thuật với phía Hoa Kỳ (NOAA) để có cách phân loại phù hợp, tạo thêm dư địa chuyển tiếp cho nghề đánh bắt ghẹ bằng bẫy (pot/trap). Báo cáo cũng tổng hợp nhiều “điểm nghẽn” vận hành ở tuyến thực thi: có địa phương chờ UBND tỉnh ban hành công bố thủ tục hành chính nội bộ nên chưa thụ lý hồ sơ; có nơi yêu cầu doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ ngoài quy định; hay yêu cầu “trừ lùi theo từng tàu” đối với nguyên liệu nhập khẩu – điều rất khó thực hiện khi một container có thể được gom từ nhiều tàu nhỏ lẻ. Yêu cầu các địa phương đồng bộ cấp COA thủy sản đi Hoa Kỳ Ngày 30/1/2026 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường tổ chức thực hiện Thông tư 74/2025/TT-BNNMT ngày 26/12/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay, việc cấp COA đã được triển khai thực hiện ở một số địa phương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở các địa phương chưa đồng bộ, thống nhất, số lượng hồ sơ được tiếp nhận xử lý còn thấp so với nhu cầu. Do đó, để kịp thời cung cấp giấy tờ cần thiết cho các tổ chức, cá nhân xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang Hoa Kỳ không làm gián đoạn, ách tắc hoạt động xuất khẩu và thực hiện đúng quy định tại Thông tư 74/2025/TT-BNNMT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các tỉnh, thành phố quan tâm, chỉ đạo các đơn vị chức năng kịp thời công bố thủ tục hành chính, công khai tại cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; công bố quy trình nội bộ xử lý hồ sơ để kịp thời tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Hoàn thành trước ngày 5/2/2026. Các tỉnh, thành phố tổ chức tiếp nhận hồ sơ theo hình thức trực tiếp và dịch vụ bưu chính công ích (trong thời gian chưa có dịch vụ công trực tuyến); thực hiện đúng quy định về thành phần hồ sơ, hình thức hồ sơ; không yêu cầu thêm các giấy tờ, hồ sơ không cần thiết, không có trong quy định; bố trí đủ nhân sự phù hợp để kịp thời giải quyết hồ sơ theo đúng thời gian quy định. Các tỉnh, thành phố tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung quy định trong Thông tư 74/2025/TT-BNNMT đến các cơ quan, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản; triển khai các nội dung đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo tại văn bản số 11144/BNNMT-TSKN ngày 31/12/2025. Tháng 1/2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 874 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2025.  Tăng trưởng trong tháng đầu năm chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và từ nhóm sản phẩm cá tra, mực - bạch tuộc.
Xem thêm

Nông sản Việt khẳng định thương hiệu tại World Food India 2025

Hội chợ Triển lãm Thực phẩm Thế giới Ấn Độ - World Food India 2025 (WFI 2025) diễn ra từ ngày 25 đến 28/9/2025 tại thủ đô New Delhi, Ấn Độ. Hội chợ Triển lãm Thực phẩm Thế giới Ấn Độ - World Food India 2025 (WFI 2025) diễn ra từ ngày 25 đến 28/9/2025 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc tế Bharat Mandapam, thủ đô New Delhi, Ấn Độ. Đây là lần thứ 4 hội chợ được tổ chức với quy mô hơn 100.000 m², quy tụ hơn 1.500 doanh nghiệp, gần 2.400 đại biểu quốc tế, hơn 800 nhà mua đến từ 90 quốc gia và thu hút hơn 100.000 lượt khách tham quan. WFI 2025 là sự kiện quốc tế quan trọng, góp phần định vị Ấn Độ như một trung tâm chế biến và cung ứng thực phẩm toàn cầu. Tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhấn mạnh rằng Ấn Độ sở hữu 3 sức mạnh chiến lược là đa dạng, nhu cầu và quy mô". Ấn Độ với dân số hơn 1,4 tỷ người là thị trường thực phẩm giàu tiềm năng đồng thời cũng là một trong những quốc gia có ngành công nghiệp thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới. Trong giai đoạn 2024-2025, xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến đạt 49,4 tỷ USD, trong đó thực phẩm chế biến chiếm 20,4%. Trong vòng một thập kỷ qua, lĩnh vực chế biến thực phẩm của Ấn Độ đã thu hút 7,33 tỷ USD FDI. Thủ tướng Ấn Độ N.Modi khẳng định Ấn Độ sẵn sàng hợp tác toàn cầu trên toàn chuỗi giá trị thực phẩm, mở rộng cửa đón nhận đầu tư quốc tế. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, tham dự và phát biểu tại lễ khai mạc hội chợ Trong khuôn khổ hội chợ năm nay, Việt Nam tiếp tục được lựa chọn là Quốc gia Trọng điểm (Focus Country) lần thứ hai liên tiếp, cùng với Nhật Bản, UAE và Nga. Đây là minh chứng cho sự đánh giá cao của quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trên bản đồ ngành thực phẩm toàn cầu. Tại lễ khai mạc và cắt băng khánh thành Khu gian hàng Việt Nam, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải khẳng định sự hiện diện tích cực của doanh nghiệp Việt Nam tại hội chợ không chỉ góp phần thúc đẩy xuất khẩu mà còn quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Đại sứ bày tỏ kỳ vọng sự kiện sẽ tạo thêm động lực để quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Ấn Độ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu đạt 20 tỷ USD kim ngạch thương mại song phương như lãnh đạo hai nước đã đề ra. Cắt băng khánh thành khu gian hàng Việt Nam Phát biểu khai mạc gian hàng Việt Nam, ông Bùi Trung Thướng, Tham tán Thương mại Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ cho rằng, WFI 2025 là một trong những hội chợ chuyên ngành thực phẩm có quy mô lớn và uy tín hàng đầu thế giới. Việc các doanh nghiệp Việt Nam hiện diện tại đây thể hiện quyết tâm mở rộng thị trường, quảng bá sản phẩm. Đồng thời thúc đẩy hợp tác thương mại – đầu tư song phương, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản và thực phẩm chế biến. Khu gian hàng Việt Nam như một cầu nối hiệu quả, giúp doanh nghiệp hai nước xây dựng các mối quan hệ đối tác bền vững, góp phần phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm khu vực và toàn cầu. Khu gian hàng quốc gia Việt Nam do Thương vụ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh tổ chức Khu gian hàng quốc gia Việt Nam do Thương vụ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh tổ chức có diện tích 150 m² với sự tham gia của 15 doanh nghiệp nông sản tiêu biểu như: Cà phê Napoli, Vinacafe, sữa hạt Vinamilk, bánh dừa Mỹ Phương Food, gạo, hạt điều và trái cây sấy của Nuts House, nước trái cây Bảo Hưng, tương ớt Tomcare Chilica, thực phẩm hữu cơ Duy Anh Foods, sản phẩm thực dưỡng của Eherbal, chè Vân Phong... Các sản phẩm này đã thu hút sự quan tâm và đánh giá cao từ các nhà mua hàng Ấn Độ và quốc tế. Với sự hỗ trợ tích cực của Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ, đoàn doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động như trưng bày sản phẩm, kết nối giao thương, gặp gỡ người mua – người bán, tham quan triển lãm, diễn đàn xúc tiến xuất khẩu và công nghệ đổi mới... Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện trực tiếp tiếp xúc đối tác, mở rộng quan hệ, học hỏi xu hướng tiêu dùng và công nghệ mới, từng bước khẳng định dấu ấn Việt Nam trong chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu. 15 doanh nghiệp nông sản tiêu biểu của Việt Nam tham gia hội chợ Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ tổ chức và hỗ trợ doanh nghiệp tham dự Hội chợ World Food India 2025 là hoạt động hiện thực hóa chỉ đạo của Bộ Công Thương về thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị nông sản Việt Nam. Với tinh thần chủ động, tích cực, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ đã đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đưa tinh hoa nông sản Việt vươn xa tại thị trường Ấn Độ, đồng thời góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ thực phẩm toàn cầu.
Xem thêm
03/02/2026

Bộ Công Thương phối hợp tháo gỡ vướng mắc về an toàn thực phẩm tại cửa khẩu

Cục Xuất nhập khẩu đề nghị Sở Công Thương các địa phương phối hợp tháo gỡ khó khăn trong kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo đảm thông quan hàng hóa thông suốt. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) vừa có Công văn số 135/XNK-TMQT gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Ảnh minh hoạ. Công văn nêu rõ, thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long tại Văn bản số 1012/VPCP-KGVX ngày 31/01/2026 của Văn phòng Chính phủ về việc xử lý kiến nghị tháo gỡ khó khăn trong thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 của Chính phủ, Cục Xuất nhập khẩu đề nghị Sở Công Thương các tỉnh, thành phố phối hợp triển khai một số nội dung. Đối với Sở Công Thương các tỉnh biên giới, Cục Xuất nhập khẩu đề nghị tăng cường trao đổi, đàm phán với chính quyền địa phương và cơ quan quản lý của nước có chung đường biên giới nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; đồng thời tăng thời gian thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan, đặc biệt đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trong các dịp lễ, Tết, tránh để phát sinh ùn ứ hoặc ách tắc hàng hóa tại khu vực cửa khẩu. Bên cạnh đó, thường xuyên cập nhật diễn biến giao nhận, thông quan hàng hóa tại cửa khẩu và các vấn đề liên quan, kịp thời trao đổi, phản ánh với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan để phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh. Đối với Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, Cục Xuất nhập khẩu đề nghị phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn triển khai các giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; thường xuyên cập nhật thông tin, tình hình từ các tỉnh biên giới để chủ động cân nhắc, điều chỉnh nhịp độ đưa hàng lên biên giới và nhập khẩu hàng hóa về Việt Nam phù hợp với năng lực thông quan của các cửa khẩu. Tăng cường công tác thông tin, khuyến cáo doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chức năng đối với thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; cập nhật diễn biến thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu biên giới để chủ động xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu phù hợp, hạn chế phát sinh ùn ứ và các tác động bất lợi khác. Các Sở cũng được đề nghị kịp thời trao đổi, phản ánh với Sở Công Thương các tỉnh biên giới, Bộ Công Thương và các bộ, ngành, cơ quan liên quan để phối hợp xử lý các vấn đề phát sinh. Xem công văn tại đây.
Xem thêm

BECHAMP – “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”

29/09/2025
BECHAMP – Thương hiệu cà phê hữu cơ tiên phong từ Đắk Nông Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng lan rộng, nhiều thương hiệu nông sản Việt Nam đã và đang chuyển mình để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nổi bật trong số đó là BECHAMP – Hợp tác xã Nông sản hữu cơ tại Đắk Nông, đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nguyên lý khoa học vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Triết lý từ nền tảng khoa học Tên gọi BECHAMP được lấy cảm hứng từ nhà khoa học Antoine Bechamp – người đề cao sự cân bằng giữa các vi sinh vật trong tự nhiên. Triết lý này đã trở thành kim chỉ nam cho thương hiệu: tạo môi trường canh tác thuận lợi để vi sinh vật có lợi phát triển, từ đó giúp cây trồng khỏe mạnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất và mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Hướng tới nông nghiệp sạch và bền vững BECHAMP ứng dụng các chế phẩm sinh học từ nguyên liệu tự nhiên như cá, đậu tương, thân chuối, xác bã thực vật… nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất và nâng cao sức đề kháng của cây trồng. Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu canh tác, chăm sóc đến chế biến, đảm bảo tiêu chí sạch, hữu cơ và thân thiện với môi trường. Không chỉ dừng ở đó, BECHAMP còn tích cực hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, tư vấn miễn phí kỹ thuật sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Đây cũng là một trong những điểm nhấn giúp thương hiệu khẳng định uy tín, đồng hành cùng cộng đồng. Sản phẩm đặc trưng vùng đất đỏ bazan Đắk Nông được biết đến là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nơi tạo nên hương vị đặc biệt cho cà phê. BECHAMP đã khai thác lợi thế này để cho ra đời nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như: beCHAMP Coffee Gu Mạnh, beCHAMP Coffee Honey Nắng Vàng, beCHAMP Coffee Natural Nắng Vàng… Các sản phẩm không chỉ giữ trọn hương vị nguyên bản của cà phê Việt mà còn đảm bảo an toàn, giàu giá trị dinh dưỡng. Thương hiệu uy tín – Hướng đến tương lai xanh Với phương châm “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”, BECHAMP đang dần trở thành thương hiệu cà phê hữu cơ uy tín, góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường trong và ngoài nước. Sự minh bạch trong quy trình sản xuất, cam kết chất lượng cùng định hướng phát triển bền vững đã giúp BECHAMP tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Trong tương lai, BECHAMP không chỉ dừng lại ở thị trường cà phê hữu cơ mà còn hướng tới mở rộng mô hình nông nghiệp xanh, lan tỏa giá trị bền vững đến nhiều lĩnh vực khác, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại và thân thiện với môi trường.
Đọc thêm0

VIHAMARK - Chuẩn vị tự nhiên – Tự hào thương hiệu Việt

02/08/2025
Vihamark – Khẳng định vị thế thương hiệu nước giải khát Việt từ nguồn nguyên liệu tự nhiên Trong hành trình hội nhập và phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Vihamark đang dần định hình vị thế là một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất nước giải khát thiên nhiên chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác tối đa giá trị từ nông sản bản địa. Với triết lý “Tự nhiên là chuẩn mực”, Vihamark không ngừng đổi mới để mang đến những sản phẩm tốt cho sức khỏe, gắn kết giữa con người – thiên nhiên – công nghệ một cách hài hòa và bền vững. Hành trình kiến tạo thương hiệu từ nền tảng giá trị thật Thành lập từ năm 2016, Vihamark khởi nguồn tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (Hà Nam) với khát vọng trở thành thương hiệu giải khát Việt Nam tiêu biểu, sánh ngang cùng các thương hiệu khu vực. Không đi theo lối mòn của các dòng nước uống đóng chai đại trà, Vihamark lựa chọn hướng đi khác biệt: tập trung vào sản phẩm nước giải khát từ nguyên liệu tự nhiên, không chất bảo quản, hàm lượng dinh dưỡng cao và vị ngon thuần khiết. Trải qua gần một thập kỷ phát triển, Vihamark đã mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với gần 30 dòng nước giải khát, từ nước trái cây, nước thảo dược đến nước yến, nha đam, dừa, mãng cầu, măng cụt... Tất cả đều được nghiên cứu và phát triển dựa trên tinh thần “thức uống lành, chuẩn vị tự nhiên”, đáp ứng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng từ thành thị đến nông thôn, từ nội địa đến xuất khẩu. Công nghệ – Nhân sự – Quản trị: Ba trụ cột kiến tạo chất lượng Chất lượng sản phẩm của Vihamark là kết tinh của ba yếu tố: công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực tận tâm, và hệ thống quản lý khoa học. Tại nhà máy Vihamark đặt tại Hà Nam, công ty đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Nhật Bản, áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018. Mỗi công đoạn – từ chọn lọc nguyên liệu, xử lý, chiết rót, đóng gói – đều được kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo không chỉ vị ngon mà còn sự an toàn tối đa cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân sự của Vihamark, với hơn 100 cán bộ công nhân viên, là những người trẻ năng động, yêu nghề và luôn đề cao tinh thần sáng tạo – chính trực. Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng đề cao giá trị con người, khuyến khích học hỏi và gắn bó lâu dài, từ đó thúc đẩy năng suất và chất lượng lao động. Đa dạng sản phẩm – Định hình thị phần Nhận thức rõ vai trò của sự khác biệt trong xây dựng thương hiệu, Vihamark liên tục nghiên cứu và ra mắt các dòng sản phẩm mới, với điểm nhấn là các sản phẩm chứa thạch dừa, trái cây miền nhiệt đới, và nước yến chưng bổ dưỡng. Những sản phẩm như nước mãng cầu xiêm thạch dừa, nước măng cụt, nước nha đam mật ong, yến sào collagen, nước yến đường ăn kiêng… không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị mà còn tạo dựng niềm tin về giá trị sức khỏe và sự tiện lợi. Đặc biệt, Vihamark xây dựng hệ thống thương hiệu mang tính phân khúc như: FPI 100 – Nước ép trái cây tươi nguyên chất Quà tặng từ thiên nhiên – Dòng sản phẩm quà biếu cao cấp Năng lượng bất tận – Dòng nước uống bổ sung năng lượng Chuẩn vị tự nhiên – Dòng nước giải khát truyền thống kết hợp hiện đại Thị trường rộng mở – Tầm nhìn toàn cầu Từ một nhà sản xuất nội địa, Vihamark đã phát triển hệ thống phân phối rộng khắp ba miền Việt Nam, với hàng ngàn điểm bán lẻ và đối tác chiến lược. Không dừng lại ở đó, sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thị trường quốc tế, phục vụ cộng đồng người Việt và khách hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Định hướng đến năm 2030, Vihamark đặt mục tiêu trở thành top 5 thương hiệu nước giải khát tự nhiên được yêu thích nhất tại Đông Nam Á, đồng thời gia tăng sản lượng xuất khẩu gấp 3 lần hiện tại. Để hiện thực hóa điều đó, công ty đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm nhà máy mới tại các tỉnh trọng điểm nông nghiệp, đồng thời số hóa hệ thống quản trị và bán hàng. Cam kết phát triển bền vững Không chỉ kinh doanh hiệu quả, Vihamark còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ việc thu mua nguyên liệu từ nông dân với giá ổn định, tham gia các chương trình hỗ trợ phát triển vùng trồng bền vững, cho đến các hoạt động thiện nguyện, tài trợ học bổng, bảo vệ môi trường – tất cả thể hiện triết lý kinh doanh nhân văn mà công ty theo đuổi. Vihamark không chỉ là một thương hiệu nước giải khát – mà là biểu tượng cho một triết lý sống khỏe, sống xanh, sống lành mạnh cùng thiên nhiên. Với nền tảng vững chắc và chiến lược rõ ràng, Tập đoàn Vihamark đang sẵn sàng cho hành trình bứt phá tiếp theo, đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.
Đọc thêm0

Yến sào FanZa – Khởi nguồn sức sống, kết nối niềm tin

09/07/2025
Yến sào FanZa là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm yến sào chất lượng cao tại Việt Nam. Với sứ mệnh “Mang tinh hoa yến Việt đến với mọi gia đình trên toàn thế giới”, FanZa không ngừng đầu tư vào công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất khép kín và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tối ưu, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. 🌿 Sản phẩm đa dạng, chất lượng vượt trội FanZa cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm yến sào như: yến thô, yến tinh chế, yến chưng sẵn, yến chưng đường phèn, yến sào kết hợp thảo dược… Tất cả sản phẩm đều được chế biến từ nguồn yến tự nhiên khai thác tại các vùng yến nổi tiếng của Việt Nam, đảm bảo giữ trọn hàm lượng dinh dưỡng quý giá. 🏭 Nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhà máy FanZa được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở mức cao nhất. Mọi khâu từ tuyển chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói đều được kiểm soát nghiêm ngặt bằng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. 🚀 Tầm nhìn - Sứ mệnh - Giá trị cốt lõi FanZa đặt mục tiêu trở thành thương hiệu yến sào hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng tầm giá trị yến sào Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chúng tôi cam kết mang đến sản phẩm yến sào nguyên chất, an toàn, giàu dinh dưỡng cùng dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm. FanZa luôn đề cao các giá trị: Chất lượng – Uy tín – Sáng tạo – Phát triển bền vững. 🤝 Đối tác tin cậy FanZa đã và đang trở thành đối tác tin cậy của nhiều hệ thống phân phối, siêu thị, doanh nghiệp xuất khẩu tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, và EU.
Đọc thêm0

Nguyên Hậu – Chất lượng song hành, phát triển bền vững

09/07/2025
Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Nguyên Hậu (Nguyen Hau Import Export Joint Stock Company) là một doanh nghiệp uy tín tại Đồng Tháp, chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thủy hải sản chế biến. Doanh nghiệp tự hào sở hữu hệ thống sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến và dây chuyền khép kín có chứng nhận quốc tế như ISO và HACCP, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng ổn định đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước  ✅ Sản phẩm đa dạng & phân phối toàn quốc 🔸 Bánh phồng tôm – đặc sản chủ lực Là sản phẩm mang dấu ấn của thương hiệu Nguyên Hậu, bánh phồng tôm được làm từ tôm tươi, bột năng và các gia vị truyền thống. Sản phẩm có nhiều kích cỡ, phù hợp với tiêu chuẩn nội địa và xuất khẩu, được ưa chuộng tại nhiều thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và EU. 🔸 Thực phẩm sơ chế & tiện lợi Bột gạo, bột năng, bột bắp, bột mì: phục vụ chế biến thực phẩm, làm bánh và gia dụng. Bún gạo khô, bánh tráng, bánh hỏi: sản phẩm truyền thống đóng gói tiện lợi, xuất khẩu mạnh sang châu Á và Bắc Mỹ. 🔸 Thủy hải sản đông lạnh Tôm sú, tôm thẻ, cá tra fillet: chế biến và cấp đông ngay tại xưởng đạt chuẩn HACCP. Các mặt hàng được kiểm định chất lượng nghiêm ngặt, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. 🔸 Thực phẩm ăn liền – đóng gói Bánh gạo, bánh snack, bánh quy tôm, mì ăn liền... Phát triển theo định hướng tiện lợi – bổ dưỡng – phù hợp khẩu vị Á Đông. 🔸 Sản phẩm OEM & nhãn riêng Nguyên Hậu nhận gia công và sản xuất theo yêu cầu cho các đối tác trong và ngoài nước, cung cấp đầy đủ hồ sơ xuất khẩu, bao bì chuyên nghiệp và linh hoạt tùy thị trường. 🏭 Quy trình sản xuất – Kiểm soát chất lượng Từ khâu chọn lọc nguyên liệu đến chế biến và đóng gói, mọi công đoạn đều áp dụng quy trình sản xuất khép kín, tự động hóa và giám sát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO, HACCP. Nhờ vậy, sản phẩm luôn giữ chất lượng cao và an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người tiêu dùng  🌍 Tầm nhìn và sứ mệnh Nguyen Hau xác định chất lượng là chiến lược tiếp cận thị trường và phát triển bền vững. Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp chế biến thực phẩm hàng đầu tại Đồng Tháp và nằm trong TOP 10 công ty thực phẩm uy tín tại Việt Nam, công ty cam kết mang đến dòng sản phẩm tuyệt hảo – được người tiêu dùng tin tưởng trong nước và quốc tế
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: