Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

17/04/2026

IMEX NEWS đẩy mạnh kết nối giao thương tại Vân Nam: Mở rộng cánh cửa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt Nam

Từ ngày 16 đến 22/4/2026, trong khuôn khổ chương trình xúc tiến thương mại quốc tế “Chia sẻ thị trường lớn – Xuất khẩu Trung Quốc”, đoàn doanh nghiệp Việt Nam do Bộ Công Thương tổ chức đã tham gia chuỗi hoạt động kết nối giao thương, quảng bá sản phẩm và xúc tiến xuất khẩu tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Trong chuỗi hoạt động này, Công ty TNHH IMEX NEWS Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là đơn vị kết nối chiến lược, góp phần đưa doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp hệ thống phân phối và thị trường tiêu dùng Trung Quốc một cách bài bản, hiệu quả. Không gian giao thương chuyên nghiệp – tạo điểm chạm trực tiếp với thị trường Trung Quốc Chương trình được tổ chức với quy mô bài bản, bao gồm các hoạt động: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm xuất khẩu tiêu biểu của Việt Nam Kết nối giao thương doanh nghiệp (B2B) Quảng bá thương hiệu và hình ảnh quốc gia Hoạt động biểu diễn, trải nghiệm sản phẩm Khu gian hàng Việt Nam nổi bật với thiết kế hiện đại, mang đậm dấu ấn giao thoa văn hóa Việt – Trung, thu hút đông đảo khách tham quan, đối tác và nhà nhập khẩu Trung Quốc. Các sản phẩm được giới thiệu đa dạng, tập trung vào nhóm thế mạnh như: Yến Sào, Sâm Việt Nam, cà phê, hạt mắc ca, nông sản chế biến, thực phẩm, đồ uống, sản phẩm đặc sản vùng miền… Không chỉ trưng bày, doanh nghiệp còn trực tiếp tư vấn, giới thiệu, dùng thử sản phẩm, qua đó giúp đối tác Trung Quốc hiểu rõ hơn về chất lượng và tiềm năng hợp tác.   IMEX NEWS – cầu nối thực chất giữa doanh nghiệp Việt và thị trường Trung Quốc Điểm khác biệt của chương trình lần này nằm ở việc kết nối đi vào chiều sâu, thay vì chỉ dừng ở quảng bá. IMEX NEWS đóng vai trò trung tâm trong việc: Tổ chức và vận hành khu gian hàng Việt Nam Kết nối trực tiếp doanh nghiệp với nhà nhập khẩu Trung Quốc Tư vấn tiêu chuẩn, quy định xuất khẩu tại chỗ Hỗ trợ truyền thông đa kênh trước – trong – sau sự kiện Với lợi thế sở hữu Trung tâm giao dịch tại Nam Ninh (Quảng Tây) cùng mạng lưới đối tác tại Vân Nam, Quảng Đông, Thâm Quyến, IMEX NEWS giúp doanh nghiệp:- Tiếp cận đúng đối tác có nhu cầu nhập khẩu thực tế- Hiểu rõ yêu cầu thị trường từng khu vực -Tối ưu quy trình xuất khẩu – logistics – phân phối Đây chính là yếu tố then chốt giúp nâng cao tỷ lệ chuyển đổi từ kết nối sang đơn hàng thực tế. Doanh nghiệp Việt nắm bắt cơ hội – nhiều tín hiệu tích cực từ thị trường Thông qua chuỗi hoạt động, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã ghi nhận kết quả khả quan: Sản phẩm: Yến sào, Sâm Việt Nam, cà phê rang xay, cà phê hòa tan được đánh giá cao tại các kênh tiêu dùng đô thị. Socola, Ca cao, Mắc ca, hạt dinh dưỡng thu hút nhóm khách hàng trung – cao cấp. Trái cây chế biến, đồ uống phù hợp với xu hướng tiêu dùng tiện lợi tại Trung Quốc. Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp đã: Thiết lập kết nối trực tiếp với nhà phân phối Trao đổi mẫu sản phẩm Bước đầu đàm phán hợp tác thương mại Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng nhận diện rõ những yêu cầu cần cải thiện như:bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng – những nội dung đang được IMEX NEWS tư vấn và hỗ trợ hoàn thiện. Dấu ấn truyền thông – nâng tầm hình ảnh doanh nghiệp Việt Một điểm nhấn quan trọng của chương trình là sự quan tâm của truyền thông Trung Quốc. Đại diện IMEX NEWS – Chủ tịch Dương Duy Trường – Trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình Vân Nam về tiềm năng hợp tác thương mại Việt – Trung. Trong cuộc trao đổi, ông nhấn mạnh vai trò của việc chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng kênh phân phối bài bản nếu doanh nghiệp Việt muốn chinh phục thị trường Trung Quốc một cách bền vững. Sự xuất hiện trên truyền hình địa phương không chỉ giúp nâng cao uy tín của IMEX NEWS mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh sản phẩm Việt Nam đến đông đảo người tiêu dùng Trung Quốc.  Chiến lược dài hạn: Từ xúc tiến đến xây dựng hệ sinh thái phân phối Không dừng lại ở các sự kiện ngắn hạn, IMEX NEWS đang triển khai chiến lược dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt: Thiết lập kênh phân phối ổn định tại Trung Quốc Phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới (CBEC) Xây dựng điểm trưng bày hàng Việt tại Nam Ninh – Quảng Châu Tổ chức kết nối giao thương định kỳ theo ngành hàng Chiến lược này giúp doanh nghiệp chuyển từ “xuất khẩu theo cơ hội” sang xuất khẩu có hệ thống – có thị trường – có thương hiệu. Khẳng định vai trò cầu nối – mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Chuỗi hoạt động xúc tiến tại Vân Nam đã cho thấy một thực tế rõ ràng:Doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể chinh phục thị trường Trung Quốc nếu có định hướng đúng và đối tác phù hợp. Trong bối cảnh đó, IMEX NEWS đang đóng vai trò là: Cầu nối thị trường; Đơn vị tư vấn chiến lược; Đối tác triển khai thực tế giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, tối ưu chi phí và gia tăng cơ hội thành công. Với những kết quả tích cực từ chương trình, IMEX NEWS dự kiến tiếp tục phối hợp cùng các cơ quan chức năng, địa phương và đối tác Trung Quốc để mở rộng thêm nhiều hoạt động xúc tiến trong thời gian tới. Giúp đưa hàng Việt vào sâu hơn hệ thống phân phối Trung Quốc; Nâng cao giá trị xuất khẩu; Xây dựng thương hiệu quốc gia bền vững Dưới đây là một số hình ảnh trong Chuỗi sự kiện:
Xem thêm

Tin tức

Xuất khẩu nông sản đối mặt áp lực mới từ thị trường và rào cản xanh

Dù kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng năm 2026 tiếp tục tăng nhưng nhiều mặt hàng chủ lực đang chịu sức ép do cầu giảm và các tiêu chuẩn nhập khẩu tăng.   Xuất khẩu duy trì tăng trưởng nhưng chưa đồng đều Ngày 8/5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nhằm triển khai các giải pháp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026. Ngành cà phê đặt mục tiêu xuất khẩu năm 2026 đạt 9,64 tỷ USD tăng 8,03% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh minh họa Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 4 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, tạo nền tảng cho tiêu dùng trong nước, chế biến và xuất khẩu. Trong đó, sản xuất trồng trọt cơ bản ổn định, nhiều loại cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm tăng trưởng khá. Chăn nuôi lợn, gia cầm phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và thị trường tiêu thụ. Thủy sản tiếp tục tăng trưởng, trong khi lâm nghiệp duy trì đà phát triển ở cả trồng rừng, bảo vệ rừng và khai thác gỗ. Dù còn một số khó khăn cục bộ, kết quả 4 tháng đầu năm cho thấy, ngành vẫn bảo đảm được nguồn cung tương đối vững chắc cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,64 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm trước. Trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12%; cán cân thương mại tiếp tục duy trì thặng dư. Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm 44,1% tổng kim ngạch. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông lâm thủy sản Việt Nam trong 4 tháng đầu năm. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 28,8%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 4,8%. Ở nhóm ngành hàng, rau quả đạt 2,05 tỷ USD, tăng 21,6%, với sầu riêng tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật. Thủy sản đạt 3,54 tỷ USD, tăng 10,4%; hồ tiêu tăng mạnh cả lượng và giá trị; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng khá nhờ nhu cầu từ Trung Quốc. Trong khi đó, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,1%; gạo giảm cả lượng và giá trị; hạt điều giảm nhẹ; chè giảm về lượng. Tập trung nâng chất lượng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả tăng trưởng hiện nay chưa thực sự đồng đều và còn tiềm ẩn yếu tố thiếu bền vững. Một số mặt hàng tăng trưởng chủ yếu do yếu tố mùa vụ hoặc phục hồi cục bộ của thị trường thế giới, trong khi nhiều ngành hàng vẫn chịu áp lực lớn từ giá cả, logistics, rào cản kỹ thuật và thay đổi chính sách nhập khẩu. Đặc biệt, việc một số mặt hàng như gạo và cà phê tăng về lượng nhưng giảm về giá trị cho thấy mô hình tăng trưởng dựa vào sản lượng và xuất khẩu thô đang bộc lộ hạn chế. Trong bối cảnh đó, Bộ xác định tăng trưởng thời gian tới phải dựa trên chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu, khả năng truy xuất nguồn gốc và giá trị gia tăng thay vì chỉ tập trung vào sản lượng. Bộ cũng cảnh báo hàng loạt thách thức trong thời gian tới như xung đột địa chính trị kéo dài tác động đến biến động chi phí đầu vào, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, các thị trường siết tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải. Ngoài ra, nhiều ngành hàng vẫn phụ thuộc lớn vào một số thị trường chủ lực, trong khi chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - xuất khẩu còn thiếu chặt chẽ. Theo mục tiêu Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra, năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ dự kiến đạt 17,7 tỷ USD, tăng 2,15% so với năm 2025. Rau quả được kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao với kim ngạch khoảng 9,81 tỷ USD, tăng 14,62%. Xuất khẩu thủy sản phấn đấu đạt hơn 12 tỷ USD, tăng 6,63%; cà phê đạt 9,64 tỷ USD, tăng 8,03%; hạt điều đạt 5,42 tỷ USD, tăng 3,65%. Đối với các ngành hàng khác, chè dự kiến đạt 239 triệu USD, tăng nhẹ 0,42%; sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 1,34 tỷ USD, tăng 6,3%; sản phẩm chăn nuôi hướng tới kim ngạch khoảng 686 triệu USD, tăng 7,69% so với năm 2025. Để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề ra nhiều nhóm giải pháp từ ngắn hạn đến dài hạn như theo dõi sát diễn biến thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó khó khăn về logistics và tín dụng, thúc đẩy xúc tiến thương mại có trọng tâm, mở rộng thị trường mới. Bộ cũng xác định tiếp tục tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tỷ trọng chế biến sâu, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng như Halal, Trung Đông, châu Phi và Nam Mỹ. 4 tháng đầu năm 2026, có một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về giá trị, điển hình như gạo và cà phê; điều này phản ánh giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào sản lượng và xuất khẩu thô.
Xem thêm

Australia áp thuế chống bán phá giá thép nhập từ Việt Nam, Hàn Quốc

Australia thông báo nhận được yêu cầu ban hành áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm thép mạ kẽm nhập khẩu từ Việt Nam và Hàn Quốc.   Dẫn thông báo của Ủy ban Chống bán phá giá Australia (ADC) và Thương vụ Việt Nam tại Australia, Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương cho biết, ngày 7/4/2026, Chính phủ Australia thông báo về việc Ủy ban đã nhận được hồ sơ đề nghị khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép mạ kẽm được nhập khẩu từ Việt Nam và Hàn Quốc. Các mặt hàng được phân loại theo các mã thuế quan: 7210.49.00, 7212.30.00, 7225.92.00 và 7226.99.00. Hiện tại, Ủy ban đang xem xét các vấn đề được nêu trong hồ sơ đề nghị để xác định liệu hồ sơ có đưa ra cơ sở hợp lý cho việc ban hành thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá hay không. Theo luật pháp của Australia, quyết định về việc có tiến hành điều tra hay không phải được đưa ra trước hoặc vào ngày 20/4/2026. Cục Phòng vệ thương mại sẽ tiếp tục phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Australia và nguồn thông tin để thông báo tới hiệp hội, doanh nghiệp và các bên liên quan về kết quả xem xét về khả năng khởi xướng điều tra trong thời gian tới. Australia khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép mạ kẽm được nhập khẩu từ Việt Nam và Hàn Quốc. Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu thép mạ kẽm sang Australia cần chủ động theo dõi sát diễn biến vụ việc và chuẩn bị sẵn sàng phương án ứng phó. Trước hết, nên rà soát toàn bộ hoạt động xuất khẩu liên quan đến các mã hàng bị điều tra, đặc biệt là dữ liệu về giá bán, chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên chủ động phối hợp với Cục Phòng vệ thương mại để cập nhật thông tin, đồng thời cân nhắc thuê tư vấn pháp lý quốc tế có kinh nghiệm trong các vụ việc chống bán phá giá nhằm chuẩn bị hồ sơ, lập luận bảo vệ phù hợp nếu vụ việc được khởi xướng. Ngoài ra, cần đánh giá lại chiến lược thị trường, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một thị trường duy nhất, cũng như xây dựng các kịch bản kinh doanh trong trường hợp bị áp thuế chống bán phá giá. Cục Phòng vệ thương mại cho biết, việc chủ động chuẩn bị sớm sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu tác động bất lợi và nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Xem thêm

Giá cà phê hôm nay 8/5/2026: Tăng nhẹ, lên mốc 87.000 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 8/5: Giá cà phê Tây Nguyên đồng loạt tăng nhẹ 500 đồng/kg. Trong khi đó, giá cà phê Arabica chứng kiến phiên giảm sâu nhất trong tuần.   Giá cà phê thế giới hôm nay 8/5/2026: Arabica giảm sâu Cập nhật sáng 8/5, thị trường cà phê thế giới hôm nay tiếp tục ghi nhận phiên biến động trái chiều trên các sàn giao dịch quốc tế. Trong đó, giá cà phê Arabica chứng kiến phiên giảm sâu nhất trong tuần vừa qua. Cụ thể, trên sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta ghi nhận phiên biến động trái chiều sau 2 phiên tăng liên tiếp. Trong đó, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5/2026 tăng nhẹ 35 USD/tấn, giao dịch ở mức 3.638 USD/tấn. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 1/2027 đảo chiều giảm nhẹ 16 USD/tấn, đạt mốc 3.164 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York sáng nay, giá cà phê Arabica tiếp tục ghi nhận phiên sụt giảm mạnh đồng loạt so với hôm qua. Cụ thể, kỳ giao tháng 7/2026 đảo chiều giảm 0,8 cent/lb, đạt mức 272,45 cent/lb. Cùng chiều, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2027 cũng ghi nhận giảm sâu 10,4 cent/lb, xuống mức 256,4 cent/lb. Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Arabica trên sàn Brazil ghi nhận phiên sụt giảm sâu nhất trong tuần qua. Cụ thể, kỳ hạn tháng 5/2026 đạt mức 368,95 cent/lb, sụt giảm mạnh 11,1 cent/lb so với hôm qua. Trong khi đó, kỳ giao hàng tháng 12/2026 đạt mức 321,35 cent/lb, tiếp tục giảm sâu 10,4 cent/lb. Theo Reuters, giá cà phê Arabica chốt phiên giảm xuống mức thấp nhất trong 2 tuần trở lại đây, trong bối cảnh kỳ vọng vụ mùa bội thu tại Brazil năm nay giúp giảm bớt tình trạng nguồn cung thắt chặt. Trong khi đó, giá cà phê Robusta vẫn tăng nhẹ do tồn kho ở mức thấp, mặc dù các nhà giao dịch cho biết xuất khẩu cà phê từ Việt Nam đang cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, triển vọng cho vụ thu hoạch sắp tới tại quốc gia sản xuất Robusta số 1 thế giới vẫn khá tích cực. Những chùm cà phê chín mọng tại vườn trồng Gia Lai Giá cà phê trong nước: Tăng nhẹ 500 đồng Tại thị trường trong nước, giá cà phê hôm nay (8/5) ghi nhận phiên tăng nhẹ 500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Hiện giá cà phê Tây Nguyên đang dao động quanh mốc 86.500 - 87.000 đồng/kg tại các vùng trọng điểm. Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Lắk hôm nay tăng nhẹ 500 đồng so với ngày hôm qua, hiện giao dịch ở mức 87.000 đồng/kg.  Tương tự, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Gia Lai giao dịch ở mức 87.000 đồng/kg, cũng tăng nhẹ 500 đồng/kg so với hôm qua. Gia Lai và Đắk Lắk là 2 địa phương có mức giá cà phê cao nhất trên cả nước hôm nay. Trong khi đó, giá cà phê Lâm Đồng hôm nay hiện giao dịch ở mức 86.500 đồng/kg, cũng tăng 500 đồng so với hôm qua. Đây là mức giá thấp nhất trong khu vực. Theo các chuyên gia, dự báo trong vài ngày tới, giá cà phê trong nước sẽ tiếp tục có những biến động động tích cực mới khi nguồn cung thế giới đang thắt chặt. Tuy nhiên, biên độ dao động sẽ không lớn. Còn theo số liệu của Cục Thống kê Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 810.000 tấn cà phê  tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cà phê trong giai đoạn này giảm 7%, xuống còn 3,69 tỷ USD. Riêng trong tháng 4, Việt Nam xuất khẩu 220.000 tấn cà phê, đạt giá trị 936 triệu USD.
Xem thêm

Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan tại cửa khẩu Tân Thanh

Sáng 2/2, Đoàn công tác của Bộ Công Thương đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Ngay sau chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long về tháo gỡ vướng mắc trong kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm theo Nghị định 46/2026/NĐ-CP, sáng 2/2, Đoàn công tác Bộ Công Thương do Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Tại khu vực cửa khẩu Tân Thanh, Đoàn đã có buổi làm việc với Sở Công Thương Lạng Sơn, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII và lực lượng kiểm dịch y tế cửa khẩu Tân Thanh để nắm bắt thực tế phát sinh trong quá trình kiểm tra, thông quan hàng hóa, nhất là nông sản dịp cận Tết. Sau khi nghe báo cáo về tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá tháng 01/2026 và triển khai thực hiện các quy định tại Nghị định số 46/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản cho biết, các ý kiến vướng mắc, khó khăn tại địa phương sẽ được tổng hợp, báo cáo Bộ Công Thương và phối hợp liên ngành để đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời, bảo đảm thông quan thông suốt, không để xảy ra ùn ứ hàng hóa. Cùng với kiểm tra thực địa, trước đó, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã ban hành Công văn số 135/XNK-TMQT ngày 01/2/2026 gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Đồng thời, đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp, cập nhật tình hình cửa khẩu và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm, chủ động điều tiết lượng hàng xuất nhập khẩu phù hợp năng lực thông quan, hạn chế rủi ro ách tắc. Dưới đây là một số hình ảnh phóng viên Báo Công Thương ghi nhận buổi làm việc và khảo sát thực địa tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn): Đoàn công tác của Bộ Công Thương khảo sát thực địa thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản làm trưởng đoàn (ngoài cùng bên phải) đã trực tiếp khảo sát tình hình thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Tân Thanh. Đoàn công tác khỏa sát tại khu vực bãi đỗ xe cửa khẩu Tân Thanh. Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, bước sang năm 2026, tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tăng mạnh. Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng được tăng cường theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, chủ động triển khai nhiều biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá qua cửa khẩu. Quang cảnh buổi làm việc. Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Quốc Toản phát biểu tại buổi làm việc. Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn Hoàng Khánh Duy  Đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu. Đại diện Hải quan Lạng Sơn. Đại diện Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn. Đại diện Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII Lạng Sơn.
Xem thêm

Để trung tâm logistics trở thành 'cực tăng trưởng mới'

Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, nếu triển khai đồng bộ về thể chế, hạ tầng giao thông, cảng biển, cảng cạn… Việt Nam có thể trở thành một mắt xích logistics quan trọng của ASEAN.   Ngày 6/5, Báo Công Thương đã tổ chức Tọa đàm: “Xây dựng trung tâm logistics hiện đại: Tạo lực đẩy cho sản xuất và xuất nhập khẩu”. Là một trong những diễn giả tại sự kiện, TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã chia sẻ về những tiềm năng, cơ hội và giải pháp phát triển ngành logistics Việt Nam. TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương). Ảnh: Quốc Chuyển Tốc độ tăng trưởng ngành logistics khoảng 12-15%/năm - Theo ông, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 sẽ mở ra cơ hội như thế nào để Việt Nam trở thành trung tâm logistics của ASEAN và thế giới? TS. Bùi Bá Nghiêm: Hệ thống logitics quốc gia gồm: Thể chế; cơ sở hạ tầng; thị trường, doanh nghiệp logistics; khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 mở ra một giai đoạn phát triển mới, trong đó logistics không chỉ là ngành dịch vụ hỗ trợ, mà đã trở thành một cấu phần chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia. Điểm quan trọng nhất của chiến lược là đặt ra các mục tiêu rất cụ thể: Tốc độ tăng trưởng ngành logistics giai đoạn 2025 - 2035 đạt khoảng 12-15%/năm, chi phí logistics giảm xuống còn tương đương 12-15% GDP, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 70-80%, tối thiểu 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế. Với vị trí địa kinh tế nằm trên các tuyến hàng hải, hàng không, hành lang kinh tế khu vực, cùng quy mô xuất nhập khẩu lớn (trên 930 tỷ USD năm 2025) và mạng lưới Hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp thế giới, Việt Nam có cơ hội chuyển từ “điểm trung chuyển hàng hóa” thành “điểm tổ chức chuỗi cung ứng”. Nếu triển khai đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng giao thông, cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics, logistics xanh, logistics số và cải cách thủ tục hành chính, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích logistics quan trọng của ASEAN, từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics toàn cầu. - Được biết mới đây, Bộ Công Thương đã tổ chức cuộc họp triển khai Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia, ông đánh giá đâu là những chuyển động đáng chú ý nhất từ giai đoạn phổ biến sang giai đoạn hành động? TS. Bùi Bá Nghiêm: Theo tôi, chuyển động đáng chú ý nhất là Bộ Công Thương đã chuyển rất nhanh từ tư duy “phổ biến chiến lược” sang tư duy “tổ chức thực thi chiến lược”. Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương đã cụ thể hóa các nhiệm vụ trong chiến lược theo hướng rõ việc, rõ đầu mối, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm và có cơ chế theo dõi, giám sát. Trọng tâm không chỉ là tuyên truyền chính sách, mà là hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường dịch vụ logistics, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay. Điểm quan trọng là Bộ Công Thương đã xác định rõ vai trò điều phối trong phát triển logistics quốc gia gắn với sản xuất, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, thương mại xuyên biên giới và chuỗi cung ứng. Kế hoạch hành động cũng nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống Trung tâm logistics, nâng cao năng lực doanh nghiệp logistics trong nước, phát triển logistics xanh, logistics thông minh và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu. Đây là bước chuyển từ “logistics đơn thuần là dịch vụ hậu cần” sang “logistics là hạ tầng mềm của tăng trưởng và hội nhập”. Bộ Công Thương đã xác định rõ vai trò điều phối trong phát triển logistics quốc gia gắn với sản xuất, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, thương mại xuyên biên giới. Ảnh minh họa Chuyển đổi số và xanh là “giấy thông hành” - Xin ông cho biết, trong bối cảnh yêu cầu "xanh hóa" và "số hóa" chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, Bộ Công Thương sẽ định hướng và hỗ trợ doanh nghiệp logistics Việt Nam như thế nào để vừa bắt kịp xu thế logistics xanh, thông minh, vừa nâng cao năng lực kết nối vào chuỗi cung ứng quốc tế? TS. Bùi Bá Nghiêm: Trong bối cảnh xanh hóa và số hóa chuỗi cung ứng toàn cầu đang trở thành yêu cầu bắt buộc, định hướng hỗ trợ doanh nghiệp logistics Việt Nam theo tôi cần đi theo ba hướng lớn: Thứ nhất, là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số thực chất, thông qua thúc đẩy ứng dụng các công nghệ như: IoT, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, blockchain, hệ thống quản lý vận tải, quản lý kho, truy xuất nguồn gốc và nền tảng kết nối dữ liệu. Báo cáo Logistics Việt Nam 2025 cho thấy chuyển đổi số trong logistics giúp giảm chi phí, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và tối ưu hóa vận hành; các cuộc khảo sát của Bộ Công Thương cũng ghi nhận doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số có hiệu suất giao hàng cao hơn và tiết kiệm chi phí vận hành so với mô hình truyền thống. Thứ hai, là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tập trung vào vận tải tiết kiệm năng lượng, tối ưu hóa tuyến đường, tăng tỷ lệ vận tải đa phương thức, phát triển kho xanh, bao bì xanh, đo lường phát thải và từng bước đáp ứng các yêu cầu ESG, CBAM, truy xuất carbon trong chuỗi cung ứng quốc tế. Thứ ba, là nâng cao năng lực kết nối quốc tế của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Điều này bao gồm hỗ trợ tiêu chuẩn hóa dịch vụ, phát triển nhân lực, thúc đẩy liên kết với hãng tàu, cảng biển, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp xuất khẩu, sàn thương mại điện tử và các mạng lưới logistics khu vực. Thông điệp với doanh nghiệp là: Chuyển đổi số và xanh không chỉ là chi phí tuân thủ, mà là “giấy thông hành” để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu có giá trị cao hơn. - Trong bối cảnh vừa thúc đẩy logistics xanh, thông minh để nâng cao khả năng kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa xác định phát triển trung tâm logistics là khâu đột phá. Bộ Công Thương sẽ tập trung vào những giải pháp và định hướng cụ thể gì để vừa hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi hiệu quả (về tiêu chuẩn xanh, hạ tầng số, chi phí đầu tư), vừa bảo đảm các trung tâm logistics thực sự trở thành cực tăng trưởng mới, thúc đẩy sản xuất và xuất nhập khẩu, thưa ông? TS. Bùi Bá Nghiêm: Trong thời gian tới, Bộ Công Thương cần tập trung vào một số nhóm giải pháp cụ thể. Trước hết là, hoàn thiện thể chế và tiêu chuẩn logistics xanh, logistics số, tạo khung pháp lý và môi trường thuận lợi cho vận tải đa phương thức, trung tâm logistics, logistics thương mại điện tử, logistics xuyên biên giới và dịch vụ logistics giá trị gia tăng. Song song với đó là thúc đẩy xây dựng hạ tầng dữ liệu, nền tảng kết nối logistics số quốc gia, chuẩn dữ liệu dùng chung và các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số với chi phí hợp lý. Đối với doanh nghiệp, Bộ Công Thương sẽ luôn hỗ trợ theo hướng “tạo lập môi trường, thể chế - dẫn dắt - đồng hành - lan tỏa”: Hướng dẫn tiêu chuẩn xanh, hỗ trợ tiếp cận công nghệ, đào tạo nhân lực số, kết nối thị trường, khuyến khích mô hình chia sẻ hạ tầng kho bãi, phương tiện, dữ liệu và nền tảng số. Đối với trung tâm logistics, cần phát triển theo mô hình tích hợp: Gắn với cảng biển, cảng hàng không, đường sắt, cửa khẩu, khu công nghiệp, vùng sản xuất và hành lang xuất nhập khẩu, thay vì chỉ coi trung tâm logistics là khu kho bãi đơn lẻ. Mục tiêu cuối cùng là để các trung tâm logistics trở thành “cực tăng trưởng mới” không chỉ là “điểm trung chuyển hàng hóa” mà phải là “điểm tổ chức chuỗi cung ứng”: Nơi gom hàng, phân phối, chế biến sau thu hoạch, hoàn thiện đơn hàng, kiểm định, đóng gói, truy xuất nguồn gốc, kết nối thương mại điện tử và hỗ trợ xuất khẩu. Khi đó, logistics sẽ không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn tạo giá trị mới cho hàng hóa Việt Nam, giúp doanh nghiệp đi xa hơn, nhanh hơn và bền vững hơn trên thị trường quốc tế. Xin cảm ơn ông! Phát triển logistics xanh, thông minh và liên thông giúp giảm chi phí logistics, qua đó hạ giá thành sản xuất, lưu thông và xuất khẩu. Đồng thời, nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng, cải thiện khả năng truy xuất, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.
Xem thêm

Giá vàng hôm nay (8/5): Tiếp đà tăng mạnh

Giá vàng hôm nay (8/5) đồng loạt tặng mạnh ở thị trường trong nước và quốc tế, nâng giá vàng miếng lên gần 168 triệu đồng/lượng.   Giá vàng hôm nay trên thị trường thế giới Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 4,763 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 1,67% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.437 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 151,8 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 15,7 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Nguồn tin từ Reuters cho biết, giá vàng thế giới tăng phiên thứ ba liên tiếp, được hỗ trợ bởi sự lạc quan ngày càng tăng về việc đạt được thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran, điều này giúp xoa dịu những lo ngại về lạm phát và khả năng lãi suất cao kéo dài. Giá vàng kỳ hạn của Mỹ tăng 1,2% lên 4.749,20 USD. "Nếu lệnh ngừng bắn được duy trì, chúng ta có thể gác lại cuộc xung đột này và quay trở lại hoạt động kinh doanh bình thường khi eo biển được mở cửa, tôi có thể thấy giá vàng tăng lên 5.000 USD/ounce. Thị trường hiện đang theo dõi sát sao tình hình ở Trung Đông, cũng như hướng đi mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang nhắm tới", Bob Haberkorn, chiến lược gia thị trường cấp cao tại RJO Futures, cho biết. Tổng thống Mỹ Donald Trump dự đoán cuộc xung đột với Iran sẽ sớm kết thúc khi Tehran xem xét đề xuất hòa bình của Mỹ. Các nguồn tin cho biết đề xuất này sẽ chính thức chấm dứt xung đột nhưng vẫn chưa giải quyết các yêu cầu của Mỹ về việc Iran đình chỉ chương trình hạt nhân và mở lại eo biển Hormuz. Giá dầu tiếp tục giảm, với giá dầu thô Brent giao dịch dưới 100 đô la một thùng. Chi phí năng lượng tăng cao thường đẩy lạm phát lên. Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chính sách có thể ít có xu hướng cắt giảm lãi suất để kiềm chế áp lực giá cả. Mặc dù đóng vai trò là công cụ phòng ngừa lạm phát, vàng trở nên kém hấp dẫn hơn trong môi trường lãi suất cao vì nó không mang lại lợi suất. Theo nhận định của TD Securities, có khả năng giá vàng sẽ tăng lên trên 5.200 USD/ounce một khi xung đột và áp lực lạm phát do giá dầu giảm bớt. "Việc chuyển hướng muộn hơn sang mục tiêu tối đa hóa việc làm của Fed, lợi suất thấp hơn và đồng đô la Mỹ yếu hơn, cùng với nhu cầu mới từ các nhà đầu tư và ngân hàng trung ương, có thể khơi lại xu hướng tăng giá", báo cáo cho biết thêm. Thị trường đang chờ đợi báo cáo việc làm hàng tháng của Mỹ vào thứ 6 để đánh giá xem Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ tiếp tục chính sách tiền tệ như thế nào trong năm nay. Trong khi đó, dữ liệu cho thấy ngân hàng trung ương Trung Quốc đã tích trữ vàng tháng thứ 18 liên tiếp trong tháng 4. Trong số các kim loại khác, giá bạc giao ngay tăng 5% lên 81,19 USD, mức cao nhất kể từ ngày 17/4. Giá bạch kim tăng 1,2% lên 2.085,75 đô la và giá palladium tăng 0,1% lên 1.539,01 đô la. Giá vàng trong nước hôm nay Giá vàng miếng SJC tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn DOJI, PNJ, Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết ở mức 164,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 167,5 triệu đồng/lượng chiều bán ra, tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua. Khoảng cách mua - bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, Mi Hồng nâng giá vàng miếng SJC lên 165 – 166,5 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Biên độ mua - bán tại đây giữ ở mức 1,5 triệu đồng/lượng. Vàng miếng Sáng 7/5 Sáng 8/5 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 DOJI 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 PNJ 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 Phú Quý 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 Bảo Tín Minh Châu 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 Bảo Tín Mạnh Hải 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 Mi Hồng 163,5 165 165 166,5 +1500 +1500 Bảng giá vàng miếng trong nước cập nhật sáng ngày 8/5 Giá vàng hôm nay ngày 8/5/2026. Ảnh: P.C Về giá vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại Doji niêm yết ở mức 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng nhẫn SJC loại 1-5 chỉ ở mức 164 - 167 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá nhẫn tròn trơn ở ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết giá nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo ở mức 164,5 - 167,4 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với chốt phiên giao dịch trước. Vàng nhẫn Sáng 7/5 Sáng 8/5 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng DOJI 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 SJC 162,5 165,5 164 167 +1500 +1500 Bảo Tín Minh Châu 163 166 164,5 167,5 +1500 +1500 Bảo Tín Mạnh Hải 163 165,9 164,5 167,4 +1500 +1500 Bảng giá vàng nhẫn trong nước cập nhật sáng ngày 8/5
Xem thêm

Thương vụ phát huy vai trò cảnh báo sớm cho doanh nghiệp

Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ còn đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện các rủi ro tiềm ẩn trong thương mại quốc tế.   Thương mại tăng trưởng nhưng biến động mạnh Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng biến động khó lường, vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang chuyển dịch mạnh mẽ, từ “cầu nối xúc tiến thương mại, đầu tư” sang “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro và chủ động thích ứng. Thị trường Philippines là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Phú Cường - Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines cho biết, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 1,29 tỷ USD, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 880,7 triệu USD, tăng 3,9%, trong khi nhập khẩu từ Philippines giảm mạnh 9,3%, xuống còn 409,6 triệu USD. Nhờ đó, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với mức thặng dư 471,1 triệu USD, tăng 19,1%. Thương vụ Việt Nam tại Philippines kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở gian hàng trưng bày, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm tại Philippines. Ảnh: Thành Văn Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là sự biến động đáng chú ý trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nhóm mặt hàng xuất khẩu ghi nhận xu hướng “phân hóa mạnh” với nhiều ngành tăng trưởng cao nhưng cũng không ít lĩnh vực suy giảm sâu. Dẫn chứng cụ thể, thương vụ cho biết, gạo tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng đến 9,9% sau khi Philippines dỡ bỏ lệnh tạm dừng nhập khẩu từ cuối năm 2025, chiếm tới 35,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Sự phục hồi này không chỉ giúp Việt Nam giữ vững thị phần mà còn gia tăng lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ. Ngược lại, xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang thị trường Philippines lại sụt giảm đáng kể. Clanhke và xi măng giảm tới 59,2% do tác động của biện pháp tự vệ từ nước này. Điện thoại và linh kiện giảm 5,7%. Các nhóm hàng tiêu dùng như cà phê, giày dép, dệt may lần lượt giảm 23,9%, 9,2% và 32,4%. Tham tán thương mại Lê Phú Cường cho rằng, những con số này cho thấy một thực tế rõ ràng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường Philippines với hơn 115 triệu dân và thị trường có cơ cấu dân số trẻ và sức tiêu dùng lớn. Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu cũng có sự dịch chuyển đáng kể. Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8%) nhưng chỉ tăng nhẹ 6,4%. Trong khi đó, các mặt hàng như phế liệu sắt thép và chất dẻo nguyên liệu lại tăng đột biến từ 6 - 7 lần, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào trong nước đang thay đổi nhanh chóng. Theo đánh giá của thương vụ, những biến động trên không đơn thuần là điều chỉnh cung - cầu, mà phản ánh tác động đa chiều từ bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 đã đẩy giá dầu lên mức 120 - 130 USD/thùng, khiến chi phí logistics tăng mạnh. Philippines phải duy trì tình trạng khẩn cấp năng lượng, kéo theo chi phí nhập khẩu tăng và trực tiếp làm giảm biên lợi nhuận của hàng hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, khả năng Ngân hàng Trung ương Philippines tăng lãi suất để bảo vệ đồng Peso sẽ khiến tiêu dùng nội địa bị thắt chặt. Đây là yếu tố bất lợi đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ. Đối với mặt hàng gạo, trụ cột xuất khẩu trong ngắn hạn cũng đối mặt thách thức. Philippines dự kiến hạn chế nhập khẩu trong tháng 3 và 4 xuống còn 150 nghìn tấn/tháng, thay vì khoảng 400 nghìn tấn trước đó, do bước vào vụ thu hoạch nội địa. Đáng chú ý, việc Philippines sử dụng công cụ cấp phép Thông quan nhập khẩu kiểm dịch động thực vật - SPSIC (Sanitary and Phytosanitary Import Clearance) như một biện pháp kiểm soát định lượng cho thấy xu hướng điều hành nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn. Những diễn biến này cho thấy thị trường Philippines đang chuyển từ “dễ đoán” sang “biến động có điều kiện”, nơi tăng trưởng luôn đi kèm với rủi ro chính sách và chi phí. Từ xúc tiến đến “cảnh báo sớm” Trước những diễn biến phức tạp tại thị trường Philippines, ông Lê Phú Cường cho rằng, vai trò của thương vụ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc pháp lý, làm việc với các cơ quan chức năng sở tại và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Việc cảnh báo sớm các nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro. Thực tế, những cảnh báo về việc Philippines siết nhập khẩu gạo theo mùa vụ, áp trần giá gạo lên tới 50 peso/kg, nguy cơ tăng lãi suất hay chi phí logistics leo thang… đã giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro về tồn kho, chậm dòng tiền hay đàm phán bất lợi. Không dừng lại ở đó, vừa qua, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines đã khởi xướng điều tra tự vệ đối với sản phẩm gạch men nhập khẩu (mã HS 690722 và 690723). Đây là mặt hàng từng nhiều lần bị điều tra trong quá khứ. Việc nhận diện sớm giúp doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị hồ sơ, điều chỉnh chiến lược hoặc đa dạng hóa thị trường, thay vì bị động khi vụ việc leo thang. Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong thương mại quốc tế. Không chỉ thị trường Philippines gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng cho biết, nước này là thị trường có số lượng vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam lớn nhất. Vì vậy, nhiệm vụ nhận diện rủi ro, cảnh báo sớm hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16% và GDP tăng trưởng hai con số. Hiện thực hóa các mục tiêu trên, hệ thống hơn 60 thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang được xác định là lực lượng “tiền tuyến”. Không chỉ là kênh xúc tiến, thương vụ đang chuyển sang cung cấp thông tin chuyên sâu, có phân tích và dự báo, giúp doanh nghiệp xây dựng “bản đồ rủi ro” khi tiếp cận thị trường quốc tế. Nhìn từ thị trường Philippines, một thực tế đang dần rõ nét, rủi ro không còn là yếu tố bất ngờ, mà đã trở thành “trạng thái bình thường mới” của thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó, lợi thế không thuộc về doanh nghiệp đi nhanh nhất, mà thuộc về doanh nghiệp nhìn thấy rủi ro sớm nhất và phản ứng kịp thời nhất. Ở tuyến đầu của quá trình đó, hệ thống thương vụ chính là “tai mắt thị trường”, không chỉ mở đường, mà còn cảnh báo để doanh nghiệp đi đúng hướng, đi chắc và đi xa. Trong hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2%. Đà tăng trưởng này đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp nước nhà, không chỉ mở rộng quy mô mà còn nâng cao chất lượng và khả năng thích ứng với biến động thị trường quốc tế. Ở góc độ doanh nghiệp, việc tận dụng hiệu quả thông tin từ thương vụ sẽ quyết định khả năng trụ vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Xem thêm

Giá dầu thế giới đảo chiều giảm mạnh khi eo biển Hormuz được mở lại

Giá dầu thế giới giảm sốc trong phiên cuối tuần sau tuyên bố khơi thông eo biển Hormuz của Iran, kéo theo áp lực hạ nhiệt lên thị trường năng lượng.   Thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới tuần qua ghi nhận một bước ngoặt đáng chú ý khi rủi ro địa chính trị tại Trung Đông bất ngờ hạ nhiệt vào cuối tuần, kéo theo sự đảo chiều mạnh của giá dầu và kích hoạt sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm hàng. Trong bối cảnh đó, chỉ số MXV-Index dừng ở mức 2.773 điểm, tiếp tục duy trì dưới ngưỡng 2.800 điểm. Chỉ số MXV-Index. Giá dầu đảo chiều mạnh khi eo biển Hormuz được mở lại Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), nhóm năng lượng tiếp tục là tâm điểm của thị trường trong tuần qua với biến động mạnh theo diễn biến địa chính trị tại Trung Đông. Tuy nhiên, diễn biến bất ngờ đã xuất hiện trong phiên giao dịch cuối tuần (17/4), khi Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi tuyên bố mở lại hoàn toàn hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz trong thời gian còn lại của thỏa thuận ngừng bắn với Mỹ, đồng thời căng thẳng tại Lebanon cũng có dấu hiệu hạ nhiệt. Thông tin này ngay lập tức đảo chiều tâm lý thị trường, khi tuyến vận tải huyết mạch vận chuyển khoảng 20% sản lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu được khơi thông trở lại. Áp lực nguồn cung được giải tỏa đã kéo giá dầu thế giới lao dốc mạnh chỉ trong một phiên. Kết thúc ngày 17/4, giá dầu WTI giảm tới 11,45%, trong khi dầu Brent cũng mất hơn 9%. Chốt tuần, giá Brent dừng ở mức 90,4 USD/thùng, còn WTI ở mức 83,85 USD/thùng đều là mức thấp nhất trong hơn một tháng trở lại đây. Giá dầu thô thế giới 2026. So với tuần trước, giá dầu Brent giảm hơn 5%, trong khi WTI lao dốc tới gần 13,2%, cho thấy lực bán áp đảo sau khi rủi ro nguồn cung được xoa dịu. Đồng thời, chênh lệch giá giữa hai loại dầu nới rộng cũng phản ánh nhu cầu tích trữ trên thị trường suy yếu đáng kể. Những diễn biến trên được kỳ vọng sẽ góp phần giảm áp lực lên thị trường năng lượng trong nước. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng đã triển khai các biện pháp hỗ trợ nhằm bình ổn giá. Cụ thể, ngày 16/4, Cục Thuế ban hành Công điện số 09/CĐ-CT để triển khai Nghị quyết số 19/2026/QH16, theo đó điều chỉnh hàng loạt sắc thuế đối với xăng dầu về mức thấp. Đồng thời, trong kỳ điều hành cùng ngày, giá dầu diesel được điều chỉnh giảm hơn 1.900 đồng/lít (5,85%), trong khi dầu mazut giảm gần 2.300 đồng/lít (khoảng 10,1%). Ngược lại, giá xăng E5RON92 và RON95-III tăng nhẹ, phản ánh sự điều hành linh hoạt trước biến động của thị trường quốc tế. Giá bạc phục hồi mạnh Diễn biến hạ nhiệt của rủi ro địa chính trị không chỉ gây áp lực lên nhóm năng lượng mà còn tạo điều kiện cho dòng tiền dịch chuyển sang các tài sản kim loại, với tâm điểm là mặt hàng bạc. Khép lại tuần giao dịch, giá bạc COMEX tăng khoảng 7% so với tuần trước, lên 81,8 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tháng, đồng thời nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 4 liên tiếp. Theo MXV, động lực chính đến từ sự cải thiện rõ rệt trong tâm lý thị trường khi căng thẳng tại Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong suốt tuần, các tín hiệu nối lại đàm phán giữa Mỹ và Iran, cùng với diễn biến tích cực trong quan hệ Israel - Lebanon, đã góp phần củng cố kỳ vọng về sự ổn định của khu vực. Đáng chú ý, thông tin eo biển Hormuz được mở lại trong phiên cuối tuần đã giúp giá bạc bật tăng gần 4% chỉ trong một phiên, khi lo ngại về rủi ro chi phí năng lượng kéo dài được xoa dịu. Diễn biến này không chỉ hỗ trợ triển vọng nhu cầu kim loại công nghiệp mà còn tác động tích cực đến môi trường vĩ mô. Khi rủi ro lạm phát giảm bớt, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ gia tăng, kéo theo sự suy yếu của đồng USD và lợi suất trái phiếu. Kết tuần, chỉ số Dollar Index giảm 0,6% xuống còn 98,1 điểm, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm lùi về 4,24%. Điều này góp phần gia tăng sức hấp dẫn của bạc - tài sản được định giá bằng USD.  Diễn biến giá sản phẩm bạc Comex và Chỉ số đô la Mỹ. Ở góc độ cung - cầu, thị trường bạc tiếp tục được hỗ trợ bởi triển vọng thâm hụt kéo dài. Theo dự báo từ Metal Focus và Silver Institute, thị trường dự kiến bước sang năm thiếu hụt thứ 6 liên tiếp trong năm 2026, với mức thiếu hụt khoảng 46,3 triệu ounce. Trong ngắn hạn, dòng vốn đầu tư cũng cho thấy tín hiệu tích cực. Các quỹ ETF bạc toàn cầu ghi nhận tuần thứ hai liên tiếp mua ròng, nâng tổng lượng nắm giữ lên 28.044 tấn. Đồng thời, dữ liệu từ CFTC cho thấy nhóm quỹ đầu cơ đã tăng vị thế mua ròng thêm 8,4%, phản ánh kỳ vọng vào xu hướng phục hồi giá. Cán cân cung - cầu thị trường bạc thế giới. Trong nước, giá bạc diễn biến đồng pha với xu hướng thế giới. Tính đến ngày 19/4, giá bạc miếng 999 được niêm yết trong khoảng 3,012 - 3,148 triệu đồng/lượng, tăng hơn 6% so với tuần trước. Giá bạc nguyên liệu 999 cũng tăng lên mức 2,606 - 2,642 triệu đồng/lượng. Bên cạnh đó, trong tuần qua, MXV đã điều chỉnh tăng mức ký quỹ ban đầu đối với một số sản phẩm bạc niêm yết trên sàn COMEX, trong đó hợp đồng bạc tiêu chuẩn được nâng từ 57.511 USD lên 61.131 USD, nhằm kiểm soát rủi ro trong bối cảnh biến động giá gia tăng. Diễn biến trái chiều giữa hai nhóm hàng cho thấy thị trường đang chuyển từ trạng thái nhạy cảm với rủi ro nguồn cung sang giai đoạn tái định giá kỳ vọng vĩ mô khi các yếu tố địa chính trị dần hạ nhiệt. Trong bối cảnh đó, dòng tiền có xu hướng tìm đến những tài sản hưởng lợi từ môi trường lãi suất và đồng USD suy yếu, qua đó duy trì sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm hàng trong ngắn hạn.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Xuất khẩu sầu riêng bứt tốc: Minh bạch để đi xa

Xuất khẩu sầu riêng quý đầu năm 2026 tăng mạnh nhưng để phát triển bền vững, ngành hàng cần minh bạch hóa, truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn chuỗi.   Tăng trưởng ấn tượng, thị trường rộng mở Xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong những tháng đầu năm 2026, tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những mặt hàng trái cây chủ lực trên thị trường quốc tế. Lũy kế quý I/2026, giá trị xuất khẩu sầu riêng đạt 221,7 triệu USD, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Ảnh minh họa Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), riêng tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt 76 triệu USD, tăng gấp 2,6 lần so với tháng trước và tăng 67,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế quý I, giá trị xuất khẩu đạt 221,7 triệu USD, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu với mức tăng trưởng vượt trội. Bên cạnh đó, nhiều thị trường khác như Mỹ, Hàn Quốc, Australia hay Nhật Bản cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của sầu riêng Việt Nam. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, mức tăng trưởng này phản ánh nhu cầu tiêu thụ mạnh mẽ của thị trường quốc tế đối với sầu riêng. “Trong số các thị trường lớn nhất của sầu riêng Việt Nam, Trung Quốc là thị trường có mức tăng trưởng lớn nhất. Điều này cho thấy vai trò then chốt của thị trường tỷ dân trong việc thúc đẩy toàn ngành tăng trưởng”, ông Đặng Phúc Nguyên nói. Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu sầu riêng quý I/2026 không chỉ toàn màu sáng. Trong khi giá sầu riêng đông lạnh xuất khẩu tăng hơn 20%, giá xuất khẩu sầu riêng tươi, mặt hàng chủ lực lại giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy áp lực cạnh tranh và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm. “Luồng xanh” và bài toán minh bạch chuỗi giá trị Trong bối cảnh đó, một bước chuyển quan trọng của ngành sầu riêng đã được ghi nhận khi giữa tháng 4/2026, lô hàng đầu tiên được thông quan theo quy trình “luồng xanh” tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị. Đây là mô hình thí điểm áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn trình, đánh dấu sự thay đổi trong cách thức quản lý nông sản xuất khẩu. Lô hàng gồm hai container, được sản xuất theo quy trình khép kín từ vùng trồng, thu hoạch, đóng gói đến hoàn thiện hồ sơ điện tử. Toàn bộ thông tin được cập nhật xuyên suốt, tạo thành chuỗi liên thông từ vườn đến cửa khẩu. Phát biểu tại sự kiện lô sầu riêng đầu tiên được thông quan theo quy trình “luồng xanh” dựa trên hệ thống truy xuất toàn trình, ông Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp minh bạch toàn bộ quá trình sản xuất mà còn cho phép kiểm tra, truy ngược khi cần thiết. Đây là yếu tố quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu. Điểm khác biệt của mô hình “luồng xanh” nằm ở việc kiểm soát được thực hiện ngay từ đầu vào, thay vì chỉ tập trung ở khâu cuối như trước đây. Từ khâu lấy mẫu đất, gắn tem tại vườn, đến dán mã QR cho từng thùng hàng và theo dõi hành trình bằng thiết bị định vị, toàn bộ quy trình được số hóa và giám sát chặt chẽ. Việc áp dụng công nghệ không chỉ giúp rút ngắn thời gian thông quan mà còn nâng cao độ tin cậy của sản phẩm. Theo thông tin từ cơ quan quản lý, thời gian từ thu hoạch đến khi hàng hóa qua cửa khẩu được rút ngắn đáng kể so với phương thức truyền thống. Không dừng lại ở khía cạnh kỹ thuật, mô hình này còn mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý nông sản, khi dữ liệu trở thành trung tâm của chuỗi giá trị. Mỗi sản phẩm có một “định danh” riêng, cho phép theo dõi toàn bộ hành trình từ sản xuất đến tiêu thụ. Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng cũng nhận định, việc số hóa thông tin không chỉ phục vụ kiểm tra, xác thực mà còn hỗ trợ phân tích thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả điều hành và xây dựng chiến lược kinh doanh. Ông Đặng Phúc Nguyên cho hay, nhu cầu tiêu thụ sầu riêng trên thế giới, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc, đang gia tăng nhanh cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu. Lợi thế về vị trí địa lý, chi phí vận chuyển và cải thiện quy trình thông quan đang giúp sầu riêng Việt Nam gia tăng thị phần. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh nếu không đi kèm kiểm soát sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việc phát triển nóng vùng trồng có thể dẫn đến dư thừa nguồn cung, trong khi yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Do đó, để duy trì đà tăng trưởng, ngành sầu riêng cần tập trung vào các yếu tố cốt lõi như kiểm soát chất lượng, đảm bảo truy xuất nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, cần quy hoạch vùng trồng hợp lý, tránh phát triển tự phát. Bên cạnh đó, đầu tư vào chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và hệ thống logistics sẽ là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm thiểu rủi ro thị trường. "Cơ hội đang mở ra rất lớn cho sầu riêng Việt Nam. Nhưng để “đi xa”, ngành hàng này không thể chỉ dựa vào nhu cầu thị trường, mà cần một chiến lược phát triển dài hạn, trong đó minh bạch và số hóa chuỗi giá trị đóng vai trò then chốt", ông Đặng Phúc Nguyên chia sẻ và cho hay, việc triển khai thành công mô hình “luồng xanh” không chỉ là bước tiến đối với riêng sầu riêng, mà còn là tiền đề để mở rộng sang các mặt hàng nông sản khác. Đây được xem là “tấm hộ chiếu” giúp nông sản Việt Nam nâng cao uy tín, đáp ứng yêu cầu thị trường và từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu. Trung Quốc tiếp tục là khách hàng chủ lực của sầu riêng Việt Nam trong quý đầu năm, với kim ngạch đạt 200,2 triệu USD, tăng mạnh 304% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm tới 90,2% tổng giá trị xuất khẩu.
Xem thêm

Xuất khẩu sang EU: Doanh nghiệp Việt cần làm chủ dữ liệu carbon

Cơ chế điều chỉnh thuế carbon biên giới (CBAM) đang tái định hình "luật chơi" thương mại tại thị trường Liên minh châu Âu (EU) buộc doanh nghiệp Việt phải nhanh chóng làm chủ dữ liệu carbon để giữ vững thị trường.   Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Hồ Thanh Hương, Viện Nghiên cứu châu Âu - châu Mỹ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) xung quanh vấn đề này. Xuất khẩu sang EU không còn chỉ là câu chuyện chi phí - Thưa bà, xuất khẩu sang EU vẫn tăng trưởng tốt, nhưng tại sao carbon lại trở thành vấn đề đáng lo ngại lúc này? TS. Hồ Thanh Hương:Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU vẫn duy trì đà tăng trưởng vững chắc. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 56,2 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2024, trong khi tổng thương mại hai chiều lên tới 73,8 tỷ USD. Việt Nam duy trì mức xuất siêu khoảng 38,6 tỷ USD, chiếm khoảng 13–14% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, chính mức độ phụ thuộc này khiến Việt Nam trở nên nhạy cảm hơn với các thay đổi chính sách từ EU, đặc biệt là các cơ chế liên quan đến định giá carbon. Cơ chế CBAM không chỉ làm tăng chi phí, mà còn thay đổi cách hàng hóa được định giá trên thị trường toàn cầu. Ảnh minh họa - Trong bối cảnh đó, theo bà, CBAM đang thay đổi “luật chơi” thương mại toàn cầu như thế nào? CBAM không chỉ là một công cụ chi phí, mà là một sự thay đổi trong cách hàng hóa được định giá. Theo cơ chế này, nhà nhập khẩu vào thị trường EU phải khai báo lượng phát thải carbon “ẩn” trong sản phẩm, đặc biệt với các ngành như thép, xi măng, nhôm và phân bón. Từ năm 2026, lượng phát thải đó sẽ được quy đổi thành chi phí, dựa trên mức giá carbon mà doanh nghiệp châu Âu đang trả trong Hệ thống mua bán phát thải EU (EU ETS). Trong giai đoạn 2024 - 2025, giá carbon trong EU ETS dao động quanh 80 - 100 EUR/tấn CO₂, đây là một mức đủ lớn để làm thay đổi cấu trúc chi phí của các ngành phát thải cao. Ước tính cho thấy chi phí liên quan đến CBAM có thể làm tăng 5 - 10% giá thành sản phẩm đối với các ngành chịu tác động trực tiếp, và có thể lên tới 10 - 15% với các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu. Nhưng điều đáng chú ý là tác động không dừng ở chi phí sản xuất, mà lan sang khả năng cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. - Như bà đã nói, rủi ro lớn nhất từ CBAM không phải là chi phí, vậy đó là gì? TS. Hồ Thanh Hương: Rủi ro lớn nhất nằm ở dữ liệu. Trong giai đoạn chuyển tiếp, cơ chế CBAM chưa áp thuế, nhưng yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo chi tiết lượng phát thải. Đây thực chất là một “bộ lọc” thị trường. TS. Hồ Thanh Hương, Viện Nghiên cứu châu Âu - châu Mỹ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam). Ảnh: Hải Vân Nếu doanh nghiệp không cung cấp được dữ liệu đáng tin cậy, họ có thể bị áp mức phát thải mặc định (thường cao hơn thực tế) và điều này sẽ khiến chi phí tăng vọt khi cơ chế chính thức có hiệu lực. - Theo đánh giá của bà, Việt Nam đang ở đâu trong cuộc đua về năng lực dữ liệu carbon này? TS. Hồ Thanh Hương: Đây là một điểm yếu rõ ràng. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực vừa và nhỏ, chưa có hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải đạt chuẩn quốc tế. Điều này khiến họ mất quyền kiểm soát cách sản phẩm của mình được “định giá carbon”. Khi đó, vấn đề không còn là chi phí, mà là quyền định giá. Do đó, có thể nói CBAM thực chất là câu chuyện về quản trị carbon hơn là thuế. CBAM là sự mở rộng hệ thống định giá carbon của EU ra ngoài biên giới. Những quốc gia có hệ thống đo lường và định giá carbon riêng sẽ giữ được sự chủ động. Ngược lại, các quốc gia không theo kịp sẽ rơi vào trạng thái “tuân thủ bị động”. Việt Nam hiện đang ở giữa hai trạng thái này. Nhìn nhận cơ chế CBAM như một rào cản là chưa đủ - Việt Nam đã có những bước đi nào để thích ứng với xu hướng này, thưa bà? TS. Hồ Thanh Hương: Chính phủ đã đặt mục tiêu xây dựng thị trường carbon nội địa, với giai đoạn thí điểm từ năm 2025 và vận hành chính thức vào năm 2028. Trọng tâm là hệ thống MRV - đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải. Đây không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật, mà là nền tảng của toàn bộ hệ thống định giá carbon. MRV quyết định liệu doanh nghiệp có thể chứng minh mức phát thải của mình hay không và liệu dữ liệu đó có được chấp nhận trong thương mại quốc tế hay không. Tuy nhiên, nếu không có MRV đáng tin cậy, thị trường carbon nội địa thường vận hành theo mô hình ETS sẽ không thể hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó, nếu không có giá carbon trong nước, doanh nghiệp sẽ thiếu tín hiệu để điều chỉnh đầu tư, trong khi chi phí phát thải trên thị trường quốc tế ngày càng rõ ràng. - Theo bà, quy mô thách thức mà Việt Nam đang đối mặt là lớn đến mức nào? TS. Hồ Thanh Hương: Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể cần hơn 350 tỷ USD đầu tư đến năm 2040 để chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Một phần đáng kể trong số này sẽ tập trung vào các ngành chịu tác động trực tiếp từ CBAM. Nhưng vấn đề không chỉ là nguồn lực, mà là thứ tự ưu tiên chính sách. Do đó, cần đặt lên hàng đầu 3 ưu tiên chính sách. Thứ nhất, cần nhanh chóng chuẩn hóa hệ thống MRV theo chuẩn quốc tế để giảm rủi ro bị áp mức phát thải bất lợi. Thứ hai, đẩy nhanh việc xây dựng thị trường carbon nội địa nhằm tạo tín hiệu giá rõ ràng. Thứ ba, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực vừa và nhỏ trong việc nâng cấp công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn mới. - Trong bối cảnh hiện nay, theo bà nên nhìn CBAM là một chính sách ngắn hạn hay xu hướng dài hạn, thưa bà? TS. Hồ Thanh Hương: Nhiều khả năng đây là xu hướng dài hạn. CBAM dự kiến sẽ mở rộng sang nhiều ngành khác trong thập kỷ tới, từ hóa chất, nhựa đến hàng tiêu dùng. Điều này cho thấy thương mại toàn cầu đang chuyển sang một hệ thống nơi phát thải carbon được đo lường và định giá xuyên biên giới. Do đó, nhìn CBAM như một rào cản là chưa đủ. Nó là một tín hiệu. Trong hệ thống thương mại mới, năng lực cạnh tranh không chỉ đến từ sản xuất hiệu quả, mà còn từ khả năng chứng minh bằng dữ liệu đáng tin cậy, mức độ “xanh” của sản phẩm. - Thực tế này nói gì về tương lai mô hình tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam, thưa bà? TS. Hồ Thanh Hương: Thành công xuất khẩu trước đây dựa trên hội nhập. Nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ phụ thuộc vào chuyển đổi. Carbon đã có giá. Câu hỏi không còn là có hay không mà là ai kiểm soát mức giá đó. Đây không chỉ là câu chuyện về chi phí, sâu xa hơn là câu chuyện về chủ quyền kinh tế. Khi carbon trở thành một phần của giá hàng hóa, quốc gia nào không tự đo lường, không tự định giá được phát thải của mình sẽ phải chấp nhận mức giá do thị trường bên ngoài áp đặt. - Xin cảm ơn bà! Các yêu cầu từ thị trường EU hiện được phân thành hai nhóm song hành. Nhóm “cứng” là các quy định pháp lý bắt buộc như CBAM, EUDR, tiêu chuẩn thiết kế sinh thái, kinh tế tuần hoàn…; trong khi nhóm “mềm” đến từ người tiêu dùng và các nhà mua hàng, ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ tới quyết định thị trường. Đáng chú ý, các tiêu chí xanh đang chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc, từ rời rạc sang hệ thống, buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc toàn diện nếu muốn duy trì xuất khẩu và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Xem thêm

Xung đột Trung Đông: Cơ hội để hàng Việt 'gõ cửa' thị trường Brazil

Xung đột Trung Đông đặt ra yêu cầu đa dạng hóa thị trường. Brazil, nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ, đang mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt. Dư địa lớn cho ngành thuỷ sản Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại khu vực Trung Đông gia tăng, nhiều tuyến vận tải và chuỗi cung ứng toàn cầu chịu tác động, khiến hoạt động thương mại quốc tế trở nên khó lường. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu, việc chủ động đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Trong chiến lược đó, khu vực Mỹ Latinh, đặc biệt là Brazil, nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ, đang nổi lên như một điểm đến giàu tiềm năng cho hàng hóa Việt Nam. Theo các chuyên gia thương mại quốc tế, với quy mô dân số hơn 210 triệu người và nền kinh tế thuộc nhóm lớn nhất thế giới, Brazil được xem là “cửa ngõ” quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường Nam Mỹ. Sự bổ trợ về cơ cấu kinh tế giữa hai quốc gia cũng tạo nền tảng thuận lợi để thúc đẩy hợp tác thương mại song phương trong thời gian tới. Thông tin về tình hình kinh tế của nước sở tại, Thương vụ Việt Nam tại Brazil cho biết, trong quý I/2026, kinh tế thương mại của Brazil tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Xuất khẩu của nước này tăng mạnh hơn nhập khẩu, giúp cán cân thương mại tiếp tục thặng dư lớn. Đáng chú ý, đà tăng xuất khẩu của Brazil trong những tháng đầu năm 2026 cho thấy nhu cầu quốc tế đối với hàng hóa của nước này vẫn duy trì tích cực, đặc biệt từ các thị trường châu Á. Theo các chuyên gia kinh tế, trước những biến động tại khu vực Trung Đông, Brazil có thể trở thành điểm đến hấp dẫn hơn đối với nhiều đối tác thương mại châu Á, trong đó có Việt Nam. Brazil, nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ, đang mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt. Ảnh minh hoạ Với quy mô dân số lớn và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, thị trường này mở ra nhiều dư địa cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, từ nông sản, thủy sản đến dệt may, giày dép và hàng tiêu dùng. Thực tế cho thấy quan hệ thương mại giữa hai nước đã có bước phát triển mạnh trong những năm gần đây. Brazil hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh, trong khi Việt Nam cũng là đối tác thương mại hàng đầu của Brazil tại Đông Nam Á. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước những năm gần đây duy trì ở mức khoảng 7-8 tỷ USD mỗi năm, trong đó Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng như điện thoại, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị, dệt may, giày dép và thủy sản; còn Brazil xuất khẩu sang Việt Nam các mặt hàng nông sản, thức ăn chăn nuôi, bông và khoáng sản. Một trong những lĩnh vực được đánh giá có nhiều tiềm năng tại Brazil là thủy sản. Mặc dù là quốc gia có lợi thế lớn về nông nghiệp và chăn nuôi, sản lượng thủy hải sản nội địa của Brazil vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Điều này khiến nước này phải nhập khẩu một lượng lớn thủy sản mỗi năm. Bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng của người dân Brazil đối với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu đang thay đổi theo hướng ngày càng chọn lọc hơn. Người tiêu dùng ngày càng ưu tiên các sản phẩm có chứng nhận rõ ràng, quy trình nuôi trồng bền vững, khả năng truy xuất nguồn gốc minh bạch và được phân phối qua các hệ thống bán lẻ uy tín. Đây được xem là cơ hội lớn cho thủy sản Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm như cá tra, cá basa, cá rô phi và tôm, những mặt hàng có chất lượng ổn định, khả năng cung ứng lớn và giá thành cạnh tranh. Các chuyên gia cho rằng khi được đóng gói theo tiêu chuẩn quốc tế, thiết kế bao bì phù hợp và ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, các sản phẩm thủy sản Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện đại tại Brazil. Thực tế đã cho thấy tín hiệu tích cực từ thị trường này. Việc các tập đoàn phân phối lớn tại Brazil bắt đầu nhập khẩu thủy sản Việt Nam, trong đó có cá rô phi, đang mở ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận sâu hơn vào hệ thống phân phối của quốc gia Nam Mỹ này. Thúc đẩy hợp tác thương mại song phương Để tận dụng tốt tiềm năng thị trường Brazil, Đại sứ Việt Nam tại Brazil Bùi Văn Nghị chỉ ra, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường này hiệu quả hơn. Trước hết, các doanh nghiệp cần tiếp tục chuẩn hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn quốc tế cũng như quy định của Brazil và khu vực Nam Mỹ. Các cơ quan chức năng của Brazil kiểm soát rất chặt chẽ về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, truy xuất nguồn gốc và quy trình chế biến. Việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ASC hay BAP sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ, giảm nguy cơ phát sinh rào cản kỹ thuật và tạo niềm tin ban đầu cho đối tác nhập khẩu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần chú trọng hơn đến việc xây dựng thương hiệu và nâng cao hình ảnh sản phẩm sẽ giúp hàng hóa Việt Nam dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng Brazil. Ngoài ra, việc mở rộng hợp tác trực tiếp với các tập đoàn phân phối lớn tại Brazil cũng được xem là hướng đi quan trọng. Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình đa dạng hóa thị trường, Thương vụ Việt Nam tại Brazil đang triển khai nhiều hoạt động xúc tiến thương mại quan trọng. Trong năm 2026, Thương vụ dự kiến phối hợp với TP. Hồ Chí Minh tổ chức gian hàng quốc gia Việt Nam tại Triển lãm APAS Show Brazil 2026, dự kiến diễn ra vào tháng 5 tại thành phố São Paulo. Đây được đánh giá là sự kiện thực phẩm và đồ uống lớn nhất khu vực Mỹ Latinh, đồng thời là lễ hội ngành siêu thị lớn nhất thế giới. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thủy sản, Thương vụ cũng phối hợp với Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) hỗ trợ doanh nghiệp tham gia Triển lãm Seafood Show Latin America, dự kiến tổ chức vào tháng 10/2026 tại São Paulo. Các hoạt động này nhằm quảng bá hình ảnh hàng hóa Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp các nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối tại Brazil cũng như khu vực Mỹ Latinh. Thương vụ Việt Nam tại Brazil cũng kiến nghị Cục Xúc tiến thương mại tăng cường cung cấp thông tin thị trường cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành lớn tại Brazil như APAS Show, FISPAL Food Service, EXPOMAFE hay Seafood Show Latin America. Việc tham gia trực tiếp các sự kiện này được xem là cách hiệu quả để doanh nghiệp Việt Nam xây dựng quan hệ đối tác, mở rộng mạng lưới phân phối và từng bước gia tăng thị phần tại thị trường Nam Mỹ. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang chịu nhiều tác động từ các biến động địa chính trị, việc chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu không chỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam giảm thiểu rủi ro mà còn mở ra những cơ hội phát triển mới. Với quy mô thị trường lớn, nhu cầu nhập khẩu đa dạng và quan hệ thương mại ngày càng phát triển, Brazil được đánh giá sẽ tiếp tục là điểm đến giàu tiềm năng cho hàng hóa Việt Nam trong chiến lược mở rộng thị trường toàn cầu.
Xem thêm

Nam Phi chấm dứt điều tra chống lẩn tránh thuế với lốp xe nhập khẩu

Từ cuối tháng 3/2026, Nam Phi chấm dứt điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá đối với lốp xe ô tô, xe buýt và xe tải nhập từ Việt Nam, Campuchia, Thái Lan.   Chiều 2/4, Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương cho biết, ngày 27/3/2026, Ủy ban Quản lý thương mại quốc tế Nam Phi (ITAC - cơ quan điều tra phòng vệ thương mại của Nam Phi) đã đăng Công báo chấm dứt điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá đối với lốp xe ô tô, xe buýt và xe tải nhập khẩu từ Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Cụ thể, ngày 20/9/2024, cơ quan này đã khởi xướng điều tra vụ việc theo đề nghị của nguyên đơn - Hiệp hội Các nhà sản xuất lốp xe Nam Phi. Hàng hóa bị điều tra là lốp xe ô tô, xe buýt và xe tải thuộc mã HS 4011.10.01, 4011.10.03, 4011.10.05, 4011.10.07, 4011.10.09, 4011.20.16, 4011.20.18 và 4011.20.26; Thời kỳ điều tra chống bán phá giá từ ngày 1/11/2022 - 31/5/2024; thời kỳ điều tra lẩn tránh thuế chống bán phá giá từ ngày 1/8/2022 đến 31/7/2024. Nam Phi chấm dứt điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá đối với lốp xe ô tô, xe buýt và xe tải nhập khẩu từ Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. ITAC cũng xác định có 6 doanh nghiệp Việt Nam trả lời Bản câu hỏi điều tra ban đầu. Tuy nhiên, sau đó ITAC đã gửi yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung (Deficiency letter) đến 6 công ty trên và chỉ có 3 doanh nghiệp Việt Nam nộp thông tin trả lời. 2/3 công ty hợp tác đầy đủ đã được ITAC tiến hành thẩm tra tại chỗ vào tháng 2/2025.  Đến ngày 30/5/2025, ITAC đã ban hành Kết luận sơ bộ trong vụ việc. Theo đó, 2/3 công ty hợp tác và trả lời đẩy đủ bản câu hỏi được kết luận không lẩn tránh thuế chóng bán phá giá do chưa thành lập trong cuộc điều tra ban đầu với Trung Quốc và không bán trong nước hoặc xuất khẩu sản phẩm bị điều tra sang SACU trong giai đoạn điều tra; 1 công ty còn lại bị kết luận có lẩn tránh thuế chống bán phá giá và bị áp mức thuế 8,78%. Các công ty còn lại của Việt Nam do không hợp tác đầy đủ với ITAC nên bị nhận mức thuế toàn quốc trong vụ việc điều tra gốc đối với Trung Quốc là 41.47%.  Trong Thông báo chấm dứt điều tra, ITAC đã nêu nguyên nhân của việc này là do Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Ủy ban đã không phê duyệt khuyến nghị của Ủy ban mà thay vào đó chỉ đạo rằng vụ việc phải được chuyển lại để xem xét. Do thời hạn 18 tháng được quy định để hoàn tất việc rà soát chống lẩn tránh theo Quy định Chống bán phá giá của Nam Phi đã hết, Bộ trưởng tiếp tục chỉ đạo rằng quy trình phải được khởi động lại từ đầu. Các lý do chi tiết cho quyết định của Bộ trưởng sẽ được công bố cùng với Kết luận Cuối cùng của ITAC. Do đó, theo Quy định Chống bán phá giá, ITAC không được phép tiếp tục cuộc điều tra hoặc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm liên quan. Việc chấm dứt này có hiệu lực ngay lập tức kể từ ngày công bố thông báo này, và cuộc điều tra theo đó chính thức kết thúc. Kết quả của việc chấm dứt cuộc điều tra này là sẽ không áp dụng thuế chống lẩn tránh đối với hàng nhập khẩu lốp khí nén mới bằng cao su, loại dùng cho xe ô tô, xe buýt hoặc xe tải, thông qua việc chuyển tải từ Trung Quốc qua Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Đưa ra khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam, Cục Phòng vệ thương mại cho biết, việc chấm dứt điều tra trên của ITAC là kết quả tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần theo dõi khả năng ITAC khởi xướng lại vụ việc theo chỉ đạo của Bộ trưởng nước này. Chính vì vậy, doanh nghiệp trong nước cần chủ động theo dõi khả năng ITAC khởi xướng lại vụ việc theo chỉ đạo của Bộ trưởng Nam Phi và chuẩn bị sẵn phương án ứng phó khi cần thiết. Cùng với đó, tiếp tục phối hợp, cập nhật thông tin cho Cục Phòng vệ thương mại để nhận được hỗ trợ kịp thời trong trường hợp cơ quan điều tra Nam Phi khởi động lại quy trình điều tra.
Xem thêm
07/05/2026

Bộ Công Thương ban hành quy tắc xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định CEPA

Thông tư số 24/2026/TT-BCT vừa được Bộ Công Thương ban hành, quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CEPA Việt Nam – UAE, có hiệu lực từ ngày 5/5/2026.   Nhằm triển khai Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (CEPA), Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 24/2026/TT-BCT ngày 05/5/2026 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định này. Thông tư được ban hành trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 62/NQ-CP ngày 23/3/2026 của Chính phủ về việc ấn định thời điểm có hiệu lực của Hiệp định CEPA, cùng với Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Thông tư số 24/2026/TT-BCT quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE có hiệu lực từ ngày 5/5/2026 (Ảnh minh hoạ) Theo quy định, Thông tư số 24/2026/TT-BCT gồm 4 chương, 36 điều và 4 phụ lục kèm theo. Trong đó, các phụ lục bao gồm: Quy tắc cụ thể mặt hàng; mẫu C/O UAE-VN; mẫu khai báo của nhà xuất khẩu đủ điều kiện; và mẫu khai báo của nhà xuất khẩu bất kỳ. Thông tư quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và nguyên tắc xác định xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE. Các quy định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), thương nhân cùng các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Đáng chú ý, Thông tư quy định hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu đáp ứng một trong các tiêu chí như: có xuất xứ thuần túy; trải qua công đoạn gia công, chế biến đầy đủ; hoặc được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có xuất xứ. Đối với hàng hóa không thuần túy, quy tắc xuất xứ được xác định theo các tiêu chí như chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ nhóm (CTH) hoặc hàm lượng giá trị gia tăng (QVC) không thấp hơn 35% giá xuất xưởng. Thông tư cũng quy định cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định CEPA. Theo đó, hàng hóa có xuất xứ từ UAE nhập khẩu vào Việt Nam hoặc ngược lại sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan nếu có một trong các chứng từ như: C/O mẫu UAE-VN; chứng từ tự chứng nhận xuất xứ của nhà xuất khẩu đủ điều kiện; hoặc chứng từ tự chứng nhận xuất xứ đối với lô hàng có trị giá không vượt quá 500 USD. Mẫu C/O UAE-VN được ban hành kèm theo Thông tư, áp dụng cho hoạt động chứng nhận xuất xứ hàng hóa giữa hai nước. Theo Bộ Công Thương, quy trình chứng nhận và kiểm tra xuất xứ hàng hóa, cũng như thủ tục hành chính liên quan đến cấp C/O mẫu UAE-VN sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP và các quy định pháp luật hiện hành về xuất xứ hàng hóa. Thông tư số 24/2026/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/5/2026. Đồng thời, cơ quan hải quan sẽ chấp nhận chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định tại Thông tư để xem xét hưởng ưu đãi thuế quan đối với các lô hàng đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu từ ngày 03/02/2026.
Xem thêm

BECHAMP – “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”

29/09/2025
BECHAMP – Thương hiệu cà phê hữu cơ tiên phong từ Đắk Nông Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng lan rộng, nhiều thương hiệu nông sản Việt Nam đã và đang chuyển mình để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nổi bật trong số đó là BECHAMP – Hợp tác xã Nông sản hữu cơ tại Đắk Nông, đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nguyên lý khoa học vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Triết lý từ nền tảng khoa học Tên gọi BECHAMP được lấy cảm hứng từ nhà khoa học Antoine Bechamp – người đề cao sự cân bằng giữa các vi sinh vật trong tự nhiên. Triết lý này đã trở thành kim chỉ nam cho thương hiệu: tạo môi trường canh tác thuận lợi để vi sinh vật có lợi phát triển, từ đó giúp cây trồng khỏe mạnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất và mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Hướng tới nông nghiệp sạch và bền vững BECHAMP ứng dụng các chế phẩm sinh học từ nguyên liệu tự nhiên như cá, đậu tương, thân chuối, xác bã thực vật… nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất và nâng cao sức đề kháng của cây trồng. Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu canh tác, chăm sóc đến chế biến, đảm bảo tiêu chí sạch, hữu cơ và thân thiện với môi trường. Không chỉ dừng ở đó, BECHAMP còn tích cực hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, tư vấn miễn phí kỹ thuật sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Đây cũng là một trong những điểm nhấn giúp thương hiệu khẳng định uy tín, đồng hành cùng cộng đồng. Sản phẩm đặc trưng vùng đất đỏ bazan Đắk Nông được biết đến là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nơi tạo nên hương vị đặc biệt cho cà phê. BECHAMP đã khai thác lợi thế này để cho ra đời nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như: beCHAMP Coffee Gu Mạnh, beCHAMP Coffee Honey Nắng Vàng, beCHAMP Coffee Natural Nắng Vàng… Các sản phẩm không chỉ giữ trọn hương vị nguyên bản của cà phê Việt mà còn đảm bảo an toàn, giàu giá trị dinh dưỡng. Thương hiệu uy tín – Hướng đến tương lai xanh Với phương châm “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”, BECHAMP đang dần trở thành thương hiệu cà phê hữu cơ uy tín, góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường trong và ngoài nước. Sự minh bạch trong quy trình sản xuất, cam kết chất lượng cùng định hướng phát triển bền vững đã giúp BECHAMP tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Trong tương lai, BECHAMP không chỉ dừng lại ở thị trường cà phê hữu cơ mà còn hướng tới mở rộng mô hình nông nghiệp xanh, lan tỏa giá trị bền vững đến nhiều lĩnh vực khác, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại và thân thiện với môi trường.
Đọc thêm0

VIHAMARK - Chuẩn vị tự nhiên – Tự hào thương hiệu Việt

02/08/2025
Vihamark – Khẳng định vị thế thương hiệu nước giải khát Việt từ nguồn nguyên liệu tự nhiên Trong hành trình hội nhập và phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Vihamark đang dần định hình vị thế là một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất nước giải khát thiên nhiên chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác tối đa giá trị từ nông sản bản địa. Với triết lý “Tự nhiên là chuẩn mực”, Vihamark không ngừng đổi mới để mang đến những sản phẩm tốt cho sức khỏe, gắn kết giữa con người – thiên nhiên – công nghệ một cách hài hòa và bền vững. Hành trình kiến tạo thương hiệu từ nền tảng giá trị thật Thành lập từ năm 2016, Vihamark khởi nguồn tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (Hà Nam) với khát vọng trở thành thương hiệu giải khát Việt Nam tiêu biểu, sánh ngang cùng các thương hiệu khu vực. Không đi theo lối mòn của các dòng nước uống đóng chai đại trà, Vihamark lựa chọn hướng đi khác biệt: tập trung vào sản phẩm nước giải khát từ nguyên liệu tự nhiên, không chất bảo quản, hàm lượng dinh dưỡng cao và vị ngon thuần khiết. Trải qua gần một thập kỷ phát triển, Vihamark đã mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với gần 30 dòng nước giải khát, từ nước trái cây, nước thảo dược đến nước yến, nha đam, dừa, mãng cầu, măng cụt... Tất cả đều được nghiên cứu và phát triển dựa trên tinh thần “thức uống lành, chuẩn vị tự nhiên”, đáp ứng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng từ thành thị đến nông thôn, từ nội địa đến xuất khẩu. Công nghệ – Nhân sự – Quản trị: Ba trụ cột kiến tạo chất lượng Chất lượng sản phẩm của Vihamark là kết tinh của ba yếu tố: công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực tận tâm, và hệ thống quản lý khoa học. Tại nhà máy Vihamark đặt tại Hà Nam, công ty đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Nhật Bản, áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018. Mỗi công đoạn – từ chọn lọc nguyên liệu, xử lý, chiết rót, đóng gói – đều được kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo không chỉ vị ngon mà còn sự an toàn tối đa cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân sự của Vihamark, với hơn 100 cán bộ công nhân viên, là những người trẻ năng động, yêu nghề và luôn đề cao tinh thần sáng tạo – chính trực. Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng đề cao giá trị con người, khuyến khích học hỏi và gắn bó lâu dài, từ đó thúc đẩy năng suất và chất lượng lao động. Đa dạng sản phẩm – Định hình thị phần Nhận thức rõ vai trò của sự khác biệt trong xây dựng thương hiệu, Vihamark liên tục nghiên cứu và ra mắt các dòng sản phẩm mới, với điểm nhấn là các sản phẩm chứa thạch dừa, trái cây miền nhiệt đới, và nước yến chưng bổ dưỡng. Những sản phẩm như nước mãng cầu xiêm thạch dừa, nước măng cụt, nước nha đam mật ong, yến sào collagen, nước yến đường ăn kiêng… không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị mà còn tạo dựng niềm tin về giá trị sức khỏe và sự tiện lợi. Đặc biệt, Vihamark xây dựng hệ thống thương hiệu mang tính phân khúc như: FPI 100 – Nước ép trái cây tươi nguyên chất Quà tặng từ thiên nhiên – Dòng sản phẩm quà biếu cao cấp Năng lượng bất tận – Dòng nước uống bổ sung năng lượng Chuẩn vị tự nhiên – Dòng nước giải khát truyền thống kết hợp hiện đại Thị trường rộng mở – Tầm nhìn toàn cầu Từ một nhà sản xuất nội địa, Vihamark đã phát triển hệ thống phân phối rộng khắp ba miền Việt Nam, với hàng ngàn điểm bán lẻ và đối tác chiến lược. Không dừng lại ở đó, sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thị trường quốc tế, phục vụ cộng đồng người Việt và khách hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Định hướng đến năm 2030, Vihamark đặt mục tiêu trở thành top 5 thương hiệu nước giải khát tự nhiên được yêu thích nhất tại Đông Nam Á, đồng thời gia tăng sản lượng xuất khẩu gấp 3 lần hiện tại. Để hiện thực hóa điều đó, công ty đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm nhà máy mới tại các tỉnh trọng điểm nông nghiệp, đồng thời số hóa hệ thống quản trị và bán hàng. Cam kết phát triển bền vững Không chỉ kinh doanh hiệu quả, Vihamark còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ việc thu mua nguyên liệu từ nông dân với giá ổn định, tham gia các chương trình hỗ trợ phát triển vùng trồng bền vững, cho đến các hoạt động thiện nguyện, tài trợ học bổng, bảo vệ môi trường – tất cả thể hiện triết lý kinh doanh nhân văn mà công ty theo đuổi. Vihamark không chỉ là một thương hiệu nước giải khát – mà là biểu tượng cho một triết lý sống khỏe, sống xanh, sống lành mạnh cùng thiên nhiên. Với nền tảng vững chắc và chiến lược rõ ràng, Tập đoàn Vihamark đang sẵn sàng cho hành trình bứt phá tiếp theo, đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.
Đọc thêm0

Yến sào FanZa – Khởi nguồn sức sống, kết nối niềm tin

09/07/2025
Yến sào FanZa là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm yến sào chất lượng cao tại Việt Nam. Với sứ mệnh “Mang tinh hoa yến Việt đến với mọi gia đình trên toàn thế giới”, FanZa không ngừng đầu tư vào công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất khép kín và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tối ưu, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. 🌿 Sản phẩm đa dạng, chất lượng vượt trội FanZa cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm yến sào như: yến thô, yến tinh chế, yến chưng sẵn, yến chưng đường phèn, yến sào kết hợp thảo dược… Tất cả sản phẩm đều được chế biến từ nguồn yến tự nhiên khai thác tại các vùng yến nổi tiếng của Việt Nam, đảm bảo giữ trọn hàm lượng dinh dưỡng quý giá. 🏭 Nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhà máy FanZa được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở mức cao nhất. Mọi khâu từ tuyển chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói đều được kiểm soát nghiêm ngặt bằng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. 🚀 Tầm nhìn - Sứ mệnh - Giá trị cốt lõi FanZa đặt mục tiêu trở thành thương hiệu yến sào hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng tầm giá trị yến sào Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chúng tôi cam kết mang đến sản phẩm yến sào nguyên chất, an toàn, giàu dinh dưỡng cùng dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm. FanZa luôn đề cao các giá trị: Chất lượng – Uy tín – Sáng tạo – Phát triển bền vững. 🤝 Đối tác tin cậy FanZa đã và đang trở thành đối tác tin cậy của nhiều hệ thống phân phối, siêu thị, doanh nghiệp xuất khẩu tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, và EU.
Đọc thêm0

Nguyên Hậu – Chất lượng song hành, phát triển bền vững

09/07/2025
Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Nguyên Hậu (Nguyen Hau Import Export Joint Stock Company) là một doanh nghiệp uy tín tại Đồng Tháp, chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thủy hải sản chế biến. Doanh nghiệp tự hào sở hữu hệ thống sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến và dây chuyền khép kín có chứng nhận quốc tế như ISO và HACCP, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng ổn định đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước  ✅ Sản phẩm đa dạng & phân phối toàn quốc 🔸 Bánh phồng tôm – đặc sản chủ lực Là sản phẩm mang dấu ấn của thương hiệu Nguyên Hậu, bánh phồng tôm được làm từ tôm tươi, bột năng và các gia vị truyền thống. Sản phẩm có nhiều kích cỡ, phù hợp với tiêu chuẩn nội địa và xuất khẩu, được ưa chuộng tại nhiều thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và EU. 🔸 Thực phẩm sơ chế & tiện lợi Bột gạo, bột năng, bột bắp, bột mì: phục vụ chế biến thực phẩm, làm bánh và gia dụng. Bún gạo khô, bánh tráng, bánh hỏi: sản phẩm truyền thống đóng gói tiện lợi, xuất khẩu mạnh sang châu Á và Bắc Mỹ. 🔸 Thủy hải sản đông lạnh Tôm sú, tôm thẻ, cá tra fillet: chế biến và cấp đông ngay tại xưởng đạt chuẩn HACCP. Các mặt hàng được kiểm định chất lượng nghiêm ngặt, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. 🔸 Thực phẩm ăn liền – đóng gói Bánh gạo, bánh snack, bánh quy tôm, mì ăn liền... Phát triển theo định hướng tiện lợi – bổ dưỡng – phù hợp khẩu vị Á Đông. 🔸 Sản phẩm OEM & nhãn riêng Nguyên Hậu nhận gia công và sản xuất theo yêu cầu cho các đối tác trong và ngoài nước, cung cấp đầy đủ hồ sơ xuất khẩu, bao bì chuyên nghiệp và linh hoạt tùy thị trường. 🏭 Quy trình sản xuất – Kiểm soát chất lượng Từ khâu chọn lọc nguyên liệu đến chế biến và đóng gói, mọi công đoạn đều áp dụng quy trình sản xuất khép kín, tự động hóa và giám sát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO, HACCP. Nhờ vậy, sản phẩm luôn giữ chất lượng cao và an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người tiêu dùng  🌍 Tầm nhìn và sứ mệnh Nguyen Hau xác định chất lượng là chiến lược tiếp cận thị trường và phát triển bền vững. Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp chế biến thực phẩm hàng đầu tại Đồng Tháp và nằm trong TOP 10 công ty thực phẩm uy tín tại Việt Nam, công ty cam kết mang đến dòng sản phẩm tuyệt hảo – được người tiêu dùng tin tưởng trong nước và quốc tế
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: